Một phần của di sản của Cách mạng Pháp là sự phát triển hai
hiện tượng mới lạ: chủ nghĩa dân tộc và cách tiến hành các cuộc chiến tranh hiện
đại. Học thuyết về chủ nghĩa dân tộc – mỗi dân tộc, một quốc gia; mỗi quốc gia,
một dân tộc – phát triển cùng với chủ nghĩa cộng hòa hiện đại. Các cuộc chiến của
Napoleon theo sau Cách mạng Pháp làm gia tăng chủ nghĩa dân tộc – ở Pháp và các
vùng đất bị chinh phục – và là các cuộc
chiến tranh hiện đại đầu tiên. Nhà lý thuyết quân sự vĩ đại Carl von Clausewitz thừa nhận rằng Napoleon đã
thay đổi chiến tranh vĩnh viễn. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của
hai sự thay đổi vĩ đại này.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài dịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài dịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Các di sản của Cách mạng Pháp -Từ cánh hữu đến cánh tả
Cuộc họp của các đẳng cấp (5/5/1789)
Sự ảnh hưởng phân cực về mặt chính trị của Cách mạng Pháp đã
thiết lập nên phổ quan điểm chính trị của Châu âu vào cuối thế kỉ 19. Ở phía
cánh hữu là những người ủng hộ cho chủ nghĩa bảo hoàng và quyền lực truyền thống
của nhà thờ; ở phía cánh tả là những người vô chính phủ và những người xã hội
chủ nghĩa. Những người cộng hòa tự do, ủng hộ chủ quyền nhân dân, tự do cá
nhân, quyền tư hữu và một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đứng ở giữa. Trong bài này,
chúng ta sẽ tìm hiểu các nhà tư tưởng chính của cánh hữu và cánh tả, những người
đã tạo ra một chủ nghĩa bảo thủ cực đoan hơn (so với chủ nghĩa bảo thủ của Burke) và một chủ nghĩa xã hội vô chính
phủ.
Tranh luận về Cách mạng Pháp
Cách mạng Pháp, sự kiện chính trị vĩ đại nhất của thế kỉ 18,
đã truyền cảm hứng cho vô số các nhà tư tưởng chính trị. Trong bài này và ba
bài tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu sự ảnh hưởng về mặt triết học của nó. Đầu
tiên, chúng ta tìm hiểu sự tranh luận giữa các tác giả trong thế giới nói tiếng
Anh: Một người Anh là Richard Price đã xuất bản một khảo luận trong đó xem cuộc
cách mạng là một sự thể hiện các nguyên tắc chính trị của Anh; trong khi đó
Edmund Burke, cha đẻ của tư tưởng bảo thủ trong nền chính trị Anh Mỹ, lập luận
chống lại Price khi cho rằng cách mạng là một sự vi phạm các nguyên tắc chính
trị của Anh. Còn Thomas Pain, người viết những cuốn sách mỏng về chính trị nổi
tiếng nhất trong lịch sử Mỹ, ủng hộ cách mạng và chống lại Burke. Và Mary
Wollstonecraft cũng có quan điểm tương tự như Paine. Trong bài này, chúng ta sẽ
tìm hiểu cuộc chiến của các cuốn sách mỏng (của các tác giả kể trên), một cuộc
tranh cãi trí tuệ đầu tiên về ý nghĩa của cách mạng.
Smith và cuộc cách mạng thị trường
Bị thúc đẩy bởi sự thành công về thương mại của Hà lan và
Anh, một số nhà tư tưởng cho rằng một xã hội thương mại với những nhà sản xuất
tư lợi là tốt đẹp, dù nó trái ngược với các đức hạnh truyền thống, cổ điển, và
Ki tô giáo. Trong miêu tả nổi tiếng của mình về chủ nghĩa tư bản, Adam Smith
cho rằng chỉ một nền kinh tế thị trường tự do mới có thể mang lại ‘sự giàu có phổ
quát', cũng như khuyến khích các phẩn chất khôn ngoan. Smith miêu tả về ‘một bàn
tay vô hình’ hướng dẫn cho sự tư lợi cá nhân tạo ra lợi ích chung. Trong khi ủng
hộ cho thương mại tự do và chính sách không can thiệp của chính phủ, thì Smith cũng
chuẩn đoán các vấn đề của chủ nghĩa tư bản và bảo vệ cho một số hành động của
chính phủ. Tuy nhiên sau này, Thomas Malthus đưa ra một dự đoán gây bối rối rằng nguồn
cung thực phẩm sẽ đề ra một sự giới hạn vĩnh viễn đối với sự tiến bộ. Trong bài
này, chúng ta tìm hiểu về kỉ nguyên của triết học kinh tế.
John Locke bàn về chính quyền giới hạn và lòng khoan dung
John Locke viết hai tác phẩm giữ vị trí trung tâm trong sự
phát triển của tư tưởng chính trị hiện đại: Hai
khảo luận về chính quyền và Một lá
thư về lòng khoan dung. Tác phẩm của ông biện minh cho cuộc Cách mạng Vinh
quang năm 1688. Ông xây dựng một quan niệm “tích cực” hơn về trạng thái tự
nhiên và khế ước xã hội (so với Hobbes). Locke hiểu về sở hữu dựa vào “lao động”.
Với các khái niệm của ông về luật tự nhiên, chính quyền được ủy nhiệm, và cách
mạng, thì chính quyền được tạo ra như là công bộc của cộng đồng chính trị. Tác
phẩm Lá thư về lòng khoan dung của
Locke ủng hộ cho một sự tách rời mới mẻ giữa thẩm quyền tôn giáo và thẩm quyền
chính trị. Ông là một trong những nguồn trí tuệ sáng láng nhất của “thế kỉ chính
trị”, giai đoạn từ 1688 đến 1789, vốn tạo nên chủ nghĩa cộng hòa hiện đại.
Hobbes, Luật tự nhiên, Khế ước xã hội
Triết gia người Anh Thomas Hobbes là thành viên của cuộc
cách mạng khoa học thế kỉ 17 và là người đầu tiên nỗ lực thiết lập một lý thuyết
xã hội hiên đại. Hobbes đặt quan điểm của mình trên nền tảng của thuyết tương đối
đạo đức và một trạng thái tự nhiên khá bi quan – một cuộc chiến tất cả chống lại
tất cả. Ông xây dựng khái niệm thẩm quyền chính trị dựa trên một khế ước xã hội
giữa các cá nhân duy lý tư lợi đang tìm kiếm sự an toàn cá nhân. Hầu như không
có sự giới hạn đối với quyền lực của nhà nước bởi vì sợ hãi một chủ quyền đầy
quyền uy thì tốt hơn sợ hãi tất cả những người hàng xóm của mình. Trong bài
này, chúng ta sẽ tìm hiểu phiên bản đầu tiên của lý thuyết khế ước xã hội.
Mệnh lệnh mới của Machiavelli
Triết gia và chính khách của Florentine, Niccolo Machiavelli,
đã tạo ra một sự đoạn tuyệt với chính trị học đức hạnh cổ điển của Plato,
Aristotle, Rome, và Ki tô giáo trung cổ. Dù ông nổi tiếng nhất với tác phẩm bất
chấp luân lý Quân vương, song ông
cũng viết tác phẩm Khảo luận, trong
đó ủng hộ chủ nghĩa cộng hòa. Machiaville là một người theo chủ nghĩa duy thực trong
chính trị, nhưng ông khâm phục chủ nghĩa cộng hòa dân sự. Đóng góp lâu dài của
ông là đã chuyển hướng lý thuyết chính trị từ việc miêu tả về thành bang lý tưởng
đến việc miêu tả về sự hoạt động của các nhà nước thực tế và nêu lên câu hỏi liệu
sự lãnh đạo chính trị có cần phải thỏa mãn điều kiện đạo đức hay không.
Quân vương
· Niccolo Machiavelli (1469 – 1527) chắc chắn là triết gia
chính trị và nhà khoa học chính trị hiện đại đầu tiên. Ông sống trong trong
giai đoạn mà Italy gồm các thành bang thương mại cạnh tranh với nhau. Ông là
người Florentine, sinh ra trong một gia đình nổi tiếng, và nhận được điều mà
ông gọi là sự giáo dục nhân văn, vốn tập trung vào nền văn hóa cổ điển (Hilap –
La mã) hơn là vào chủ nghĩa kinh viện (Kito giáo).
o
Machiavelli giữ nhiều chức
vụ trong thời gian biến động về chính trị, khi giáo hoàng là một nhân vật chính
trị, các thành bang Italy tranh giành quyền lực, và Italy đối mặt với sự xâm lược
của Pháp, Tây ban nha, và Đế chế La mã thần thánh.
o
Khi cộng hòa Florentine bị
lật đổ bởi gia đình Medici vào năm 1512, Machiavelli bị cầm tù và tra tấn, sau
đó đi lưu vong, chính trong thời điểm này, ông đã viết hai tác phẩm nổi tiếng của
mình là Quân vương, và Khảo luận.
· Quân vương được xuất bản năm 1532 sau khi Machiavelli mất. Trong đó,
ông nói một cách rõ ràng rằng ông đang đưa ra lời khuyên cho các ông vua khi đối
mặt với các vấn đề thực tế, chứ không phải cho việc hình thành một thành bang
lý tưởng. Đây là một sự đoạn tuyệt rõ ràng với lý thuyết triết học cổ đại và
trung cổ, vốn cho rằng mục đích của nó là miêu tả các phẩm tính của một xã hội
công bằng và các đức hạnh cần có của người cai trị. Trong Quân vương, Machiavelli nghiên cứu các ví dụ lịch sử nổi tiếng và
rút ra các kết luận về đâu là sách lược hiệu quả nhất.
· Quan tâm chính của một quân vương là giành và giữ quyền lực.
Machiavelli nổi tiếng khi cho rằng “mục đích biện minh cho phương tiện”, điều
này dường như biện minh cho nền chính trị dựa trên sức mạnh, không quan tâm đến
đạo đức. Chẳng hạn, khi một nhiệm vụ không được dân chúng thích phải được thực
hiện, Machiavelli đề nghị bổ nhiệm một cố vấn đặc biệt để tạo ra những sự thay
đổi cần thiết; nếu người dân ghét sự thay đổi, người cai trị có thể tuyên bố về
sự yếu kếm của người cố vấn và xử tử anh ta.
· Machiavelli nhấn mạnh tầm quan trọng của virtu, có nghĩa là “sự xuất sắc” nói
chung, mà không nhất thiết là phẩm hạnh đạo đức. Ông cũng khẳng định rằng hoàn
cảnh khác nhau đòi hỏi các hành động khác nhau, và tất cả phụ thuộc vào sự may
mắn, hay fortuna. Các ông vua nỗ lực
cho sự vinh quang hơn tất cả, nhưng họ có đạt được nó hay không thì một nửa phụ
thộc vào sự xuất sắc hay khả năng của họ và một nửa vào sự may mắn.
· Rõ ràng, đây là một thuyết duy thực chính trị, vốn cho rằng
chiến tranh là một thực tế trong quan hệ giữa các cộng đồng chính trị và những
người lãnh đạo, và không thể áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức dân sự cho nó. Thuyết
duy thực cũng xưa cũ như “Đối thoại Melian”, trong chương 17 của tác phẩm Lịch sử của cuộc chiến Peloponnesian của
nhà lịch sử Hilap Thucydides.
o
Thucydides miêu tả một cuộc
gặp giữa các lãnh đạo của Melos và các tướng Athen những người đang đe dọa người
Melos bằng một lực lượng mạnh hơn hẳn. Các lãnh đạo Athen yêu cầu sự đầu hàng,
dựa trên thực tế là họ mạnh hơn người Melos. Người Melos từ chối đầu hàng nhưng
bị đánh bại sau một cuộc bao vây, và người Athen chiếm lấy Melos rồi đến sinh sống
ở đó.
o
Rất lâu sau đó, trong giai
đoạn cận đại, thái độ của người Athen có thể được gọi là raison detat, có nghĩa là lợi ích quốc gia và hành vi quốc gia
không phục tùng các chuẩn mực đạo đức thông thường.
· Không thể phủ nhận Quân
vương là một kinh điển của thuyết duy thực chính trị và trình bày cho một sự
áp dụng lần đầu tiên của thuyết duy thực quốc tế vào các vấn đề đối nội, nghĩa
là, vào việc cai trị một quốc gia. Dĩ nhiên, những người lãnh đạo đã hành động
theo cách này trong quá khứ, nhưng các triết gia cổ đại và trung cổ không ủng hộ hay bảo chữa cho điều
đó. Machivelli giải thích rõ ràng rằng ông không đang nói về nền chính trị lý
tưởng mà là về nền chính trị thực tế, và về điều mà phải được thực hiện trong
thế giới thực. Sự cai trị ổn định, chứ không phải công bằng, mới là điều quan
trọng. Ông gọi điều này là “mệnh lệnh mới”
của tư tưởng chính trị.
Khảo luận về Livy
· Một cuốn sách nổi tiếng khác của Machiavelli là Khảo luận về 10 quyển sách đầu tiên của
Titus Livy (1531), 10 quyển sách này là một sự giải thích nổi tiếng của nhà
lịch sử La mã Livy về lịch sử của cộng hòa Rome. Sẽ là đúng đắn khi xem Quân vương là một phần của một tầm nhìn
rộng lớn hơn được triển khai trong Khảo
luận.
· Chính quyền có thể thuộc kiểu cha truyền con nối hoặc kiểu cộng
hòa. Kiểu chính quyền nào mà một xã hội có phụ thuộc vào hoàn cảnh của nó. Tất
cả các dạng chính quyền của Aristotle đều ngắn ngủi và có thể thay đổi, và tất
cả phụ thuộc vào sự may rủi. Machiavelli nói, tất cả các thành bang trải qua “sự
phát tiển và lụi tàn”, mà không phải là đứng yên. Chế độ cha truyền con nối là
đúng cho một số xã hội ở một số giai đoạn nhưng không đúng cho các xã hội khác.
Cộng hòa là đúng cho một số xã hội và ở
một vài thời điểm.
· Machiavelli tin vào “hoặc là/hoặc” - rằng dạng chính quyền
và hoàn cảnh tương ứng nghiêm ngặt. Luật pháp, hoàn cảnh xã hội, và các chính
sách phải phù hợp với dạng này hoặc dạng kia; các ưu điểm của các dạng cộng đồng
chính trị đối lập không thể kết hợp với nhau. Con đường ở giữa luôn luôn tồi tệ.
Người cai trị phải hoặc là tốt đẹp hoàn hảo hoặc “xấu xa kinh khủng”.
Mô hình cộng hòa của Machiavelli
· Mô hình cộng hòa của Machiavelli là rất rõ ràng: Rome. Thời
kì đầu trong lịch sử của nó, từ 509 trước Công nguyên tới khoảng năm 207 trước
Công nguyên, trước khi Thượng viện mất đi quyền lực của nó vào tay Hoàng đế, Rome
là một nền cộng hòa, với các thiết chế chính trị đặc biệt chú trọng đến việc tản
quyền. Điều này quan trọng đối với chúng ta bởi vì về luật pháp và chính trị, cộng
hòa Rome được hầu hết mọi triết gia hiện đại coi là một mẫu hình của nền cộng
hòa.
· Luật của Rome phân biệt luật
dân sự và luật hình sự. Luật hình
sự liên quan đến sự xúc phạm chống lại nhà nước, trong khi luật dân sự liên
quan đến sự xúc phạm riêng tư. Luật dân sự cũng phân biệt hiệp hội của các công
dân với quân đội, chính quyền, và cuối cùng, các thiết chế của giới giáo sĩ.
Đây là nền tảng cho điều mà trong thế kỉ 18 gọi là xã hội dân sự.
· Machiavelli nghĩ rằng Cộng hòa Rome thực sự vĩ đại. Vô số
các thiết chế của nó cho phép nó cân bằng quyền lực; khuyến khích đức hạnh và
tinh thần cộng đồng trong giới lãnh đạo; và duy trì năng lực quân sự của nó
trong một thời gian dài. Nhưng giống như mọi sự, cuối cùng Rome xuy tàn.
· Ở đây, Machiavelli đứng về phía truyền thống cộng hòa dân sự
hiện đại, truyền thống tin rằng công dân (người tự do và có tài sản) phải cai
trị chính họ, như theo Aristotle, và họ có thể làm như vậy chỉ nếu tất cả họ có
được đức hạnh của chế độ cộng hòa, đó là danh dự, và sự sẵn sàng chiến đấu.
o
Đây là một ý niệm cũ về người
quý tộc chiến binh, khá quen thuộc trong chế độ phong kiến. Và Machiavelli, cũng
như các nhà lịch sử khác, ý thức rằng đức hạnh chiến binh như vậy có thể bị mất
đi một cách định kì.
o
Điều này tương tự với quan
điểm của nhà xã hội học Ả rập thời trung cổ Khaldun (1332-1406). Sớm hơn một thế
kỉ (so với Machiavelli), trong tác phẩm Prolegomena của ông, ông đưa ra một sự
giải thích về xã hội Ả rập và Bắc phi. Ông cho rằng, sự đoàn kết thống nhất xã
hội kiểu bộ lạc, chiến binh…phổ biến trong các bộ lạc du mục nhưng suy giảm sau
cuộc chinh phục một thành phố bởi vì đời sống thành thị thương mại mang tính cạnh
tranh cá nhân và độc hại với đức hạnh chiến binh.
o
Đây là một phần của truyền
thống cộng hòa dân sự; một nền cộng hòa là một sự kết hợp của các công dân tích
cực, những người có cả tài sản lẫn khả năng tự bảo vệ. Sở hữu tài sản và sự bảo
vệ là có liên quan bởi vì người sở hữu tài sản có đất đai để bảo vệ và có tiền
để mua vũ khí, áo giáp, những thứ mà các quan tâm thương mại có khuynh hướng
làm cho xói mòn.
o
Machiavelli cũng phê phán
công khai ảnh hưởng của Ki tô giáo. Giáo hội La mã gây tác hại cho Italy. Ki tố
giáo làm giảm bớt sinh lực và đức hạnh chiến binh.
Kết luận về nền cộng hòa
· Trong Khảo luận,
Machiavelli đưa ra một cái nhìn rộng mở hơn so với Quân vương. Thế giới hầu như không tốt đẹp, bản chất con người có cả
tốt lẫn xấu; lịch sử không đồng nghĩa với tiến bộ; và chính trị không thể bị
quyết đinh bởi các đức hạnh lý tưởng.
· Nền cộng hòa thật mong manh, nhưng khi nó tồn tại, thì nó ưu
việt về mặt đạo đức hơn so với nền quân chủ. Machiavelli đồng ý với Livy rằng
đám đông không kiên định và dễ hành động trái pháp luật, nhưng ông đưa ra một
quan điểm hiện đại hơn, với nhận xét rằng, “bất cứ ai không kiểm soát hành vi của
mình bằng luật pháp thì sẽ phạm phải lỗi tương tự mà đám đông phạm phải”.
· Dân chúng là tốt đẹp không phải bởi biết đâu là chính sách
đúng để lựa chọn mà bởi biết lắng nghe các luận điểm phản đối các chính sách và
lựa chọn đâu là luận điểm đáng giá nhất. Do đo, “chính quyền cai trị bởi nhân
dân thì tốt hơn chính quyền cai trị bởi vua chúa”, nhưng vẫn thường cần một vị
vua để thiết lập hoặc cải cách một nền cộng hòa; điều mà người dân không thể
làm.
· Dựa vào Khảo luận,
dường như Machiavelli không đưa ra các lý tưởng chính trị rõ ràng; ông kết hợp
lý tưởng với thực tế và hỏi về cái giá thực tế của việc hành động theo các ý tưởng.
Trong chính trị, vấn đề là dạng nhà nước nào được tạo ra và duy trùy. Nó phải
an ninh và trật tự; nó phải công bằng và đức hạnh. Nhưng bất cứ điều gì được
làm để tạo ra một nhà nước như vậy đều là hợp pháp.
· Mối đe dọa to lớn đối với các chế độ quân chủ và cộng hòa
không phải là quần chúng mà là sự gian trá của những người tham vọng, giàu có,
quyền lực.
Di sản của Machiavelli
· Có lẽ di sản chính của Machiavelli để lại cho chúng ta là
thuyết duy thực của ông: chúng ta không giả định tính đúng đắn của các chuẩn mực
đạo đưc dân sự trong lĩnh vực chính trị. Ông cũng nêu lên vấn đề “bàn tay bẩn”:
trong chính trị thì ta chắc chắn sẽ phải hành động mất đạo đức? Các nhà duy thực
trả lời là đúng như vậy, có nghĩa là đạo đức không thể được áp dụng.
· Nhiều người tin Machiavelli là người mất đạo đức, nhưng quan
điểm của ông thì phức tạp hơn điều đó. Nói rằng mục đích biện minh cho phương
tiện không nhất thiết là phi đạo đức.
o
Ví dụ, nếu bạn là người
theo chủ nghĩa kết quả, nếu bạn nghĩ một
hành động là tốt khi các kết quả tốt của nó lớn hơn các kết quả xấu, thì mục
đích có thể bảo chữa cho phương tiện. Dạng nổi tiếng nhất của chủ nghĩa kết quả
là thuyết công lợi, theo thuyết công lợi tính đúng đắn về mặt đạo đức của các
hành động là chúng tạo ra lợi ích lớn nhất cho nhiều người nhất.
o
Machiavelli có là một nhà kết
quả đạo đức hay thậm chí một nhà công lợi hay không? Câu trả lời là: không rõ
ràng. Ông nói rằng trong chính trị, ta không thể đơn giản chỉ theo sau bổn phận
dân sự nhưng phải làm điều gì sẽ dẫn đến kết quả tốt nhất. Nhưng ông cũng coi mục
đích tối hậu - thường được coi kết quả tốt nhất - là thứ mà giống với sự cai trị
ổn định , và nếu có thể, bằng danh tiếng.
o
Mục đích là mục đích chính
trị thực tế, vốn được ưu tiên hơn so với các dạng đức hạnh mà các triết gia cổ
đại và các học giả kinh viện quan tâm. Mối đe dọa của việc đánh mất sự cai trị,
bị chinh phục, bất ổn sẽ lấn át mọi thứ và biện minh cho bất cứ điều gì.
· Machiavelli khởi đầu cho sự suy tàn của truyền thống cổ đại
và trung cổ vốn cho rằng chỉ có phẩm hạnh đạo đức mới có thể hình thành nên một
thành bang tốt hay công bằng. Từ Plato cho đến thời trung cổ, ý tưởng cho rằng
một xã hội công bằng có thể được xây dựng mà không cần đến những người công dân
hay những người cai trị đạo đức là ngớ ngẩn. Nhưng Machiavelli lại thấy rằng xã
hội chính trị thường tiến bộ mà không cần phẩm hạnh đạo đức và thấy có một cách
để trở nên công bằng và ổn định mà không cần nó (đạo đức).
Nguồn: The Modern Political Tradition: Hobbes
to Habermas
Montesquieu và sự hình thành nước Mỹ
Trong bài giảng này, chúng ta tìm hiểu giai đoạn cách mạng
nhất của thế kỉ cách mạng nhất, khi các tư tưởng triết học có một ảnh hưởng to
lớn đối với sự hình thành những nền cộng hòa mới ở Mỹ và Pháp. Tư tưởng của triết
gia Pháp Montesquieu về sự phân chia quyền lực có ảnh hưởng quyết định đối với
các nhà lập quốc Mỹ, những người đang ở trong một cuộc xung đột trí tuệ với
nhau. Jefferson tuyên bố là sự độc lập được dựa trên luật tự nhiên và các quyền
tự nhiên và ủng hộ cho một sự tự trị phi tập trung, tích cực. Hamilton lập luận
chống lại Jefferson, ủng hộ một nhà nước tập quyền, năng động về mặt kinh tế. Madison
kết hợp sự phân chia quyền lực của Montesquieu với chủ nghĩa liên bang. Sự phức
tạp của hiến pháp và hệ thống chính quyền Mỹ là hệ quả của những sự xung đột
này.
Cộng đồng cộng hòa của Rousseau
Khai sáng là một giai đoạn bùng nổ về
tri thức và thay đổi về văn hóa. Rousseau là người chống đối vĩ đại nhất của
nó, ông cho rằng sự tiến bộ trong các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học, và kinh tế
không mang lại sự tiến bộ về đạo đức hay sự hạnh phúc. Ông có một quan điểm
tích cực, có lẽ là lãng mạn, về hoàn cảnh tự nhiên hay tiền văn minh của nhân
loại. Rousseau cũng phát triển một lý thuyết khế ước xã hội khác với lý thuyết
của Locke và Hobbes. Ông bảo vệ cho một nền dân chủ trực tiếp cấp tiến, nhưng đồng
thời cũng bảo vệ cho một sự đồng nhất về văn hóa. Lý thuyết của Rousseau là một
mô hình có tính quân bình và cộng đồng kinh điển của chủ nghĩa cộng hòa. Tác phẩm
của ông gây ra sự thay đổi chính trị vĩ đại nhất vào cuối thế kỉ: cách mạng
Pháp.
Sự tự do cổ đại so sánh với sự tự do hiện đại (P1/2)
Benjamin
Constant
Tôi muốn kêu
gọi sự chú ý của các bạn tới một sự phân biệt – vẫn còn khá mới – giữa hai dạng
tự do: sự khác nhau giữa chúng vẫn chưa nhận được chú ý, hoặc ít nhất là cho đến
bây giờ vẫn chưa nhận được sự chú ý đúng mức. Dạng thứ nhất là sự tự do mà các
dân tộc cổ đại rất coi trọng; và dạng kia là sự tự do đặc biệt quý giá đối với
các quốc gia hiện đại. Tôi nghĩa rằng sự khảo sát này rất quan trọng đối với
chúng ta, vì hai lý do khác nhau.
Ayn Rand (P2/2)
2. Lý thuyết đạo đức của Rand: Đức hạnh của sự vị kỉ
Tiêu đề khiêu khích Đức hạnh của sự vị
kỉ của Ayn Rand phù hợp với một luận đề khiêu khích tương tự về đạo đức. Đạo đức
truyền thống luôn luôn nghi ngờ sự tư lợi, lên án các hành động vô đạo đức vốn được thúc đẩy bởi sự
tư lợi, cũng như ca ngợi các hành động vị tha. Theo quan điểm truyền thống, một người tư lợi sẽ không cân nhắc lợi ích
của người khác và do đó sẽ coi thường hoặc gây tổn hại cho những lợi ích này
khi theo đuổi lợi ích của riêng mình.
Ayn Rand (P1/2)
Ayn Rand là một trí thức lớn của thế
kỷ XX. Sinh ra ở Nga vào năm 1905 và học tập ở đó, bà di cư đến Hoa Kỳ sau khi
tốt nghiệp đại học. Khi còn là sinh viên bà đã nghiên cứu lịch sử, chính trị,
triết học và văn học. Rand thấy chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cá nhân của Hoa Kỳ
là một sự thay thế đáng mong muốn cho chủ nghĩa xã hội xấu xa và suy đồi ở Nga.
Sau khi thành thạo tiếng Anh và thiết lập mình với tư cách là một nhà văn ở Mỹ,
bà đã trở thành một người ủng hộ nhiệt thành cho triết lý của mình, Chủ nghĩa khách
quan.
Tư tưởng chính trị của Robert Nozick (P2/2)
Tiếp (P1/2)
c. Luận điểm tự sở hữu
Nozick cố gắng để chứng minh về mặt
trực giác rằng chỉ có sự trao đổi trên thị trường tự do mới tôn trọng con người
như là những người bình đẳng. Để làm điều này Nozick phát triển "lý thuyết
công bằng dựa trên quyền". Để rõ ràng, chúng ta phải bắt đầu với điều được
gọi là luận điểm tự sở hữu của ông. Luận
điểm tự sở hữu của Nozick về cơ bản như thế này. 1) Mọi người sở hữu chính họ.
Điều này dựa trên trực giác mà Nozick cung cấp ở trên. 2) Thế giới và các đối
tượng của nó ban đầu không được sở hữu. 3) Ta có thể có được một quyền tuyệt đối
đối với một phần không cân xứng (chiếm hữu nhiều tài sản hơn) của thế giới nếu
điều này không làm khốn khó thêm điều kiện vật chất của người khác. Ngoài ra, vì
Nozick nghĩ mỗi rằng mỗi người sở hữu chính mình, nên mỗi người cũng sẽ sở hữu
tài năng của mình. Ông lập luận rằng điều này dẫn đến sự sở hữu các sản phẩm do
tài năng của mình tạo ra. Thực thể sở hữu và được sở hữu là cùng một, đó là con
người. Với điều này, Nozick hiểu cá nhân có các quyền sở hữu tuyệt đối đối với
chính mình, và hơn nữa, đó là quyền sở hữu tuyệt đối đối với các nguồn lực mà họ
có được. 4) Đó là tương đối dễ dàng để đạt được quyền sở hữu đối với một lượng
không cân xứng (sở hữu nhiều hơn người khác) đối với thế giới. 5) Vì vậy, một
khi sở hữu tư nhân là thích đáng, thì về mặt đạo đức một sự trao đổi tự do hàng
hóa và nguồn lực hoàn toàn được phép.
Tư tưởng chính trị của Robert Nozick (P1/2)
Mặc dù
Robert Nozick không tự coi mình là một triết gia chính trị, nhưng ông được biết
đến nhiều nhất với những đóng góp của mình cho nó. Chắc chắn là, các đóng góp của
Nozick trong các lĩnh vực nhận thức luận và siêu hình học (đặc biệt là về tự do
ý chí và lý thuyết "closest continuer" về bản sắc cá nhân) có một ảnh
hưởng lớn trong các lĩnh vực này. Tuy nhiên, chính sự xuất bản quyển sách đầu
tiên của ông, tác phẩm Vô chính phủ, Nhà nước và Không tưởng (1974) đã làm hồi
sinh chính trị cánh hữu và tạo ra một một sự bùng nổ các phản hồi và bình luận
phê phán. Trong khi thành tựu của Nozick vượt xa bên ngoài ranh giới của triết
học chính trị, thì hoàn toàn đúng đắn khi nói rằng hầu như mọi người biết đến
ông qua việc ông nỗ lực cung cấp một sự biện hộ cho nhà nước, thiết lập các giới
hạn cho chính quyền, và cố gắng thuyết phục chúng ta rằng việc chấp nhận nhà nước
tối thiểu của ông có thể thúc đẩy một khuôn khổ cho các cộng đồng thi hành các
thử nghiệm không tưởng của mình.
Chủ nghĩa tự do cá nhân (libertarianism)
Các nhà tự do cá nhân tin rằng cá nhân là tối cao, chứ không phải nhà nước
hay bất cứ tổ chức nào. Họ tin tưởng vào sự tự do tiêu cực, tức tự do khỏi sự
can thiệp từ bên ngoài. Thúc đẩy sở hữu tư nhân và tự do kinh tế thực chất là
tôn trọng cho tự do cá nhân. Trật tự xã hội không mâu thuẫn với tự do cá nhân
mà phát triển từ tự do cá nhân. Việc sử dụng sự ép buộc duy nhất hợp pháp là để
tự vệ hay hiệu chỉnh sự sai lầm. Chính quyền bị ràng buộc bởi các quyên tắc đạo
đức tương tự như cá nhân. Hành động của chính quyền bị coi là bất hợp pháp khi
sử dụng sự ép buộc để cướp bóc, gây hấn, tái phân phối, và các mục đích khác nằm
ngoài việc bảo vệ tự do cá nhân.
Triết học chính trị của Karl Popper
Minh Minh dịch
Khi so sánh với các
triết gia khác, Karl Popper (1902-1994) đặc biệt nổi bật nhờ những đóng góp cho
triết học khoa học và nhận thức luận. Hầu hết các tác phẩm được công bố của ông
giải quyết các vấn đề triết học trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý
học; và chính Popper cũng thừa nhận là, mối quan tâm chính của ông là tự nhiên
chứ không phải chính trị. Tuy nhiên, tư tưởng chính trị của ông chắc chắn có
một ảnh hưởng vĩ đại không kém so với triết học khoa học của ông. Điều này chắc
chắn đúng bên ngoài thế giới hàn lâm. Đối với công chúng có học, Popper rất nổi
tiếng vì những phê phán đối với chủ nghĩa toàn trị và sự bảo vệ của ông đối với
sự tự do, chủ nghĩa cá nhân, nền dân chủ và một “xã hội mở”. Tư tưởng chính trị
của ông đứng về phía chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa nhân văn thời Khai sáng. Ông
là một đối thủ ngoan cường của chủ nghĩa toàn trị, chủ nghĩa quốc gia, chủ
nghĩa phát xít, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tập thể, và các dạng tư tưởng
phản động, phản duy lý khác.
CHỦ NGHĨA TỰ DO
Minh Minh dịch
Chủ nghĩa tự do là một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Latin liber,
có nghĩa là tự do. Chủ nghĩa tự do ủng hộ sự tự do cá nhân. Nguồn gốc lý
thuyết của chủ nghĩa tự do có thể được tìm thấy trong các tác phẩm ở thế kỉ 17
của John Locke và các tác phẩm ở thế kỉ 18 của Adam Smith. Những nhà tự do thời
kì này được gọi là các nhà tự do cổ điển. Trong thế kỉ 19, chủ nghĩa tự do được
các nhà tư tưởng như T.H. Green và Jane Addams biến đổi. Và dạng sau đó của chủ
nghĩa tự do được gọi là chủ nghĩa tự do hiện đại.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



















