ĐỘC TÀI ĐỘC ĐẢNG

Posted on
  • Thứ Ba, 10 tháng 4, 2018
  • by
  • Minh Anh
  • in
  • Nhãn: , ,

  • Độc tài độc đảng là gì
    Độc tài độc đảng là chế độ trong đó một đảng kiểm soát toàn bộ tiến trình chính trị. Các đảng khác có thể được phép hoạt động, thậm chí cạnh tranh bầu cử và giữ các chức vụ chính trị, song chúng không có quyền lực đáng kể.
    -         Một đặc trưng của chế độ độc độc đảng (khiến nó khác với chế độ độc tài cá nhân) đó là nó có một đảng được tổ chức tốt, tự trị, có khả năng kiểm soát các nhà lãnh đạo khiến họ không thể tập trung quyền lực để trở thành các nhà độc tài cá nhân.
    -         Trong chế độ độc tài độc đảng, đảng kiểm soát hầu mọi thiết chế chính trị như quốc hội, chính phủ cũng như chi phối đời sống xã hội thông qua mạng lưới các tổ chức của đảng, cũng như truyền thông. Ngay cả quân đội cũng phục tùng đảng.
    -         Các quan chức đảng quyết định hết các chính sách, trước khi chúng được hợp pháp hóa thông qua các cơ quan dân cử như quốc hội. Bản thân quốc hội cũng bao gồm đa số thành viên của đảng.
    Trong chế độ độc tài độc đảng, lãnh đạo nhà nước thường là lãnh đạo đảng, người được bầu bởi một ủy ban trung ương hay bộ chính trị.

    Các công cụ để duy trì chế độ độc tài độc đảng
    Chúng ta cùng tìm hiểu một số công cụ mà chế độ độc tài độc đảng sử dụng để duy trì chế độ khiến nó trở thành chế độ có tuổi thọ lâu dài hơn các chế độ độc tài khác.
    Ưu tiên của giới chóp bu (tinh hoa) độc tài
    Ưu tiên chính của giới chóp bu trong chế độ độc tài độc đảng là nắm giữ quyền lực, và làm mọi cách để đảm bảo điều này.
    -         Dù có sự cạnh tranh trong giới chóp bu về lợi ích, song giới này hiểu rằng CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH, nên họ đồng thời hợp tác với nhau để duy trì sự tồn tại của chế độ.
    -         Rõ ràng khi chế độ không còn, các lợi ích của giới chóp bu cũng mất đi, đồng thời cũng rất khó cho giới này có chỗ đứng trong chế độ kế tiếp, nên bảo vệ chế độ đồng nghĩa với bảo vệ lợi ích của mình.
    Ưu tiên nắm giữ quyền lực này khiến cho chế độ độc tài độc đảng ổn định chế độ độc tài quân sự, bởi chế độ sau ưu tiên sự thống nhất quân đội hơn là nắm quyền. Chính vì vậy, khi mà việc nắm quyền gây chia rẽ và phe phái trong quân đội, họ thường chọn từ bỏ quyền lực.

     Chiến lược dung nạp
    Chiến lược này mang nhiều hình thức
    -         Chẳng hạn cho phép công chúng tham gia vào tiến trình chính trị (như tham gia vào các cổ chức của đảng, đi bỏ phiếu) khiến cho người dân cảm thấy họ có tiếng nói trong các vấn đề chính trị, qua đó gia tăng tính chính danh của chế độ.
    -         Chế độ độc tài độc đảng cũng có thể mở rộng sự ủng hộ của mình bằng cách kết nạp nhiều thành phần khác nhau trong xã hội vào đảng nhất có thể. Thông qua việc tham gia vào đảng, họ có thể tiếp cận với các lợi ích như chức vụ trong chính quyền, cơ hội thăng tiến, và các lợi lộc đi kèm. Khi quyền lợi của họ gắn chặt với quyền lợi của đảng, họ trở nên ủng hộ đảng cũng như không cố gắng lật đổ nó. Chiến lược kết nạp này giải thích tại sao một số chế độ độc tài độc đảng thực sự có được sự ủng hộ của một bộ phận lớn trong xã hội.
    -         Bên cạnh đó, một số chế độ độc tài độc đảng còn cho phép các đảng đối lập tồn tại và tham gia các cuộc bầu cử như ở  Botswana, Mexico, Taiwan (trước đây). Bằng cách làm như vậy, chế độ độc tài đảm bảo rằng hoạt động của phe đối lập luôn nằm trong ranh giới của chế độ (hơn là qua ra tìm cách lật đổ chế độ).

    Kháng lại nạn phe cánh
    Trái với nhiều dạng chế độ độc tài khác, phe cánh không phải là nguồn gây mất ổn định cho chế độ độc tài độc đảng. Phe cánh trong đảng có thể có lợi nếu chúng hợp tác với nhau, ngay cả khi có sự bất đồng về chính sách.
    Phe cánh trong chế độ độc tài độc đảng khá phổ biến, ngay cả trong các chế độ lâu đời.
    -         Chẳng hạn, ở Việt Nam, trong đảng luôn tồn tại nhiều phe cánh khác nhau cạnh tranh quyền lực và chính sách với nhau. Và cuộc chiến phe cánh quá phổ biến đến nỗi chúng trở thành phương tiện để tạo ra một sự cạnh tranh chính trị nhất định trong đảng.
    Dù nạn phe cánh có thể bị xem là một dấu hiệu của sự suy yếu của chế độ, tuy nhiên trong thực tế chúng giúp đảng giải quyết các xung đột tốt hơn.
    -         Ví dụ của Botswana minh họa thêm cho điều này. Tranh chấp liên tục giữa hai phe cánh trong Đảng dân chủ Botswana (BDP), là phe do Kwelagobe lãnh đạo và phe do Merafhe lãnh đạo, khiến cho nhiều nhà quan sát nghĩ rằng nó sẽ sụp đổ. Hai phe này có quan điểm khác nhau về nhiều vấn đề từ chiến lược của đảng có đến kiểu cách lãnh đạo. Tuy nhiên, BDP vẫn được tổ chức đủ tốt để tiếp tục duy trì quyền lực, không phe phái nào cố gắng li khai khỏi đảng, bởi các thành viên đảng đều chia sẽ mục tiêu tối thượng là duy trì quyền lực.

    Giải quyết được vấn đề kế nhiệm
    Các chế độ độc tài độc đảng thường thiết lập rất tốt các quy tắc hướng dẫn cho việc kế nhiệm.
    -         Bởi vì điều này, các nhà lãnh đạo lần lượt thay thế nhau mà không gây ra nhiều xáo trộn trong hệ thống chính trị. Điều này trái ngược với chế độ độc tài độc đảng, do việc tập trung quyền lực vào tay một người, cũng như các thiết chế khác bị làm cho suy yếu, nên mỗi khi đối mặt với vấn đề kế nhiệm, chế độ luôn có nguy cơ rơi vào mất ổn định và sụp đổ.
    -         Các chế độ độc tài độc đảng được thể chế tốt để đối mặt với vấn đề này, và vì vậy khiến cho nó bền vững hơn.

    Ví dụ về chế độ độc tài độc đảng của Trung Quốc
    Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) đã cai trị Trung Quốc trong hơn 60 năm. Dù đảng tìm cách cho thấy nó là một thể thống nhất, song bên trong nó luôn đầy những cuộc chiến phe phái. Sự thống nhất về ý thức hệ, hay kỷ luật đảng mạnh cũng không thể ngăn chặn được điều này.
    Sự chia rẽ trong đảng có từ thời Mao Trạch Đông, người đã cai trị Trung Quốc từ năm 1949 cho đến khi chết năm 1976.
    -         Là một người cha lập quốc, Mao nhận được sự tôn trọng lớn từ quan chức cũng như công chúng, và được tôn sùng ở Trung Quốc.
    -         Dù Mao cực kì quyền lực, song điều này không có nghĩa rằng giới chóp bu đảng luôn ủng hộ các quyết định của ông. Các phe cánh đã phát triển từ rất sớm trong những ngày đầu của chế độ, và là một tác nhân kiểm soát quyền lực của ông. Khi Mao cố gắng để loại bỏ những người bất đồng với mình, ông thường không thể làm được bởi những đối thủ của ông đã xây dựng nhóm ủng hộ riêng của mình có thể thách thức ông. Bất chấp mức độ chi phối của Mao đối với chế độ, song ông phải phụ thuộc vào đảng để có thể duy trì quyền lực.
    Nạn phe cánh mang lại sự ổn định cho Trung Quốc, khi nó cung cấp giải pháp cho các chính trị gia, dù chống đối lẫn nhau, song vẫn có thể tồn tại cùng nhau trong bộ máy đảng.
    -         Điều này khiến cho các chính trị gia, các phe phái bất mãn không rời bỏ đảng và tham gia phe đối lập.  
    -         Phe cánh cũng cho phép tạo ra một sự cân bằng quyền lực trong chế độ. Tất cả các bên dù xung đột với nhau, song phải đối thoại với nhau, và tuân thủ nguyên tắc đồng thuận.  Hiện nay, các phe cánh cũng ngày càng đan cài vào nhau, vì vậy làm giảm bớt xung đột.
    -         Phe cánh cũng cho phép đa dạng các khuynh hướng chính trị ảnh hưởng đến quá trình làm chính sách. Dưới ô của CCP, đa dạng các lực lượng nắm giữa các chức vụ khác nhau trong đảng. Và bởi vì các phe cánh thay nhau nắm quyền, nên có một sự phản hồi liên tục về chính sách cho phép CCP điều chính chính sách cũ và tạo ra các chính sách mới. Kết quả là chính sách của CCP trở nên thực dụng và ổn định, khi các quyết định đạt được chậm với sự khó khăn lớn.
    Nạn phe cánh cáo nghĩa rằng các chính sách ở Trung Quốc đến từ sự tranh cãi, và sự ổn định được duy trì thông qua các cuộc tranh chấp liên tục (giữa các phe cánh).

    Tài liệu tham khảo
    -         Natasha M. Ezrow, Erica Frantz. Dictators and Dictatorships: Understanding Authoritarian Regimes and Their Leaders
     
    Xem trang web chính thức tại Tinhthankhaiminh.org