Các
ý tưởng và nguyên tắc bảo thủ xuất hiện
lần đầu tiên vào cuối thế kỉ 18 và đầu thế kỉ 19. Chúng đến từ một phản ứng chống
lại sự những chuyển biến nhanh chóng về kinh tế và chính trị, mà ở một mức độ
nào đó được thể hiện trong Cách mạng Pháp.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ nghĩa bảo thủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ nghĩa bảo thủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Francis Fukuyama : HànhTrình Tư Tưởng Từ “Chung Cuộc Của Lịch Sử” đến “Hoa Kỳ Ở Ngã Tư Đường”
A : Francis Fukuyama : Tư Tưởng
Kinh Tế Chính Trị
Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ
vào năm 1989, Fukuyama, trong một bài xã luận, đã đưa ra ý niệm Chung Cuộc của
Lịch Sử . Luận thuyết nầy sau đó đã được tác giả triển khai và xuất bản dưới
nhan đề Chung Cuộc của Lịch Sử và Người Cuối Cùng vào năm 1992, một năm sau khi
Liên Bang Xô Viết tan rã. Trong cuốn sách đã đem lại tiếng tăm lừng lẫy,
Fukuyama lập luận, quá trình tiến hóa của lịch sử nhân loại qua sự đấu tranh
quyết liệt giữa các hệ ý thức khác nhau đã đến hồi kết thúc với sự toàn thắng của
văn hóa Tây phương. Đó là hệ ý thức cơ sở trên những giá trị cốt lõi Cơ Đốc
giáo mang tính phổ quát; và trật tự thế giới sẽ dần dà được định hình theo mô hình Dân chủ Tự do (liberal
democracy). Nói một cách khác, chủ nghĩa tự do về chính trị và kinh tế
(political and economic liberalism) đã toàn thắng,
và từ nay cũng là mô hình duy nhất và tốt nhất cho nhân loại .
Suốt gần hai thập kỹ vừa qua, luận
thuyết The End of History and the Last Man đã gặp nhiều chỉ
trích gay gắt của nhiều tác giả từ cả hai phía tả cũng như hữu. Để trả lời những
đả kích vừa nói cũng như phản ảnh những diễn biến trong chính trị thế giới từ
mùa hè 1989, Fukuyama đã tìm cách biện minh lập trường trong phần hậu đính
“Afterword: After the end of history”, nhân dịp tái bản lần thứ hai cuốn The
End of History vào tháng 2 năm 2006, và tiếp theo đó, trong tác phẩm
Hoa Kỳ ở Ngã Tư Đường: Dân Chủ, Quyền Lực, và Di Sản của Tân Bảo Thủ , xuất bản
cùng năm .
Tiếp sau chủ nghĩa bảo thủ mới
Chủ nghĩa bảo thủ mới ở
Hoa Kỳ được khởi nguồn từ một số trí thức Do Thái đã gia nhập nhóm Đại học
Thành phố New York (C.C.N.Y) vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ
trước. Đến những năm 90, nó được tiếp sức bởi một số dòng học thuật khác, như
nhóm của L.Strauss, nhóm của A. Wohlstetter… Chủ nghĩa bảo thủ mới đã làm cho quan
hệ giữa Hoa Kỳ và thế giới có sự thay đổi và ngày càng phức tạp hơn. Theo tác
giả, đã đến lúc chủ nghĩa bảo thủ mới phải bị vượt qua và Hoa Kỳ cần hoạch định
lại chính sách ngoại giao của mình theo nhiều đường hướng cơ bản; phải chuyển
sự chú ý sang việc cải tổ, tái cơ cấu và đầu tư một cách chính xác cho những
thiết chế của Chính phủ Hoa Kỳ.
Chủ nghĩa bảo thủ mới và trật tự thế giới mới
"Tôi luôn tin tưởng rằng
một sự sắp đặt thánh thần nào đó của tạo hóa đã khiến cho châu lục rộng lớn nằm
giữa hai đại dương này được tìm thấy bởi những người có một tình yêu cháy bỏng
đối với tự do và một lòng dũng cảm đặc biệt"
Thống
đốc bang California, Ronald Reagan, 1974
Tân bảo thủ và chính sách ngoại giao Mỹ hiện nay1
Trần Hữu Dũng2
Từ khi George W.
Bush nhậm chức tổng thống (và nhất là sau 11 tháng 9 năm 2001), chính sách ngoại
giao của Mỹ đã gây sửng sốt cho hầu như mọi người (dù ủng hộ hay chống Bush).
Sự ngạc nhiên này có thể vì hai lẽ chính:
Thứ nhất, vì cuộc bầu cử năm 2000 có nhiều mờ ám, Bush lại không được đa số phiếu của dân Mỹ,[3] nên ai cũng nghĩ là ông sẽ rụt rè, nhút nhát, vậy mà chính phủ Bush lại có những chính sách ngoại giao xác quyết khác thường. Vài sự kiện nổi bật: (1) Quyết định đơn phương bất chấp dư luận quốc tế (rút khỏi thoả ước Kyoto về khí quyển, chống lại Toà Án Hình Sự Quốc Tế, hủy bỏ hiệp ước ABM với Nga); (2) ủng hộ Israel gần như không điều kiện; (3) nhất quyết lật đổ Saddam Hussein, chiếm đóng Iraq. Chẳng những thế, dù bị chỉ trích, nhạo báng là đạo đức giả, là bịp dân, là chà đạp dân quyền (ngay với dân Mỹ), là bất chấp chủ quyền nước khác, Bush vẫn không chùn bước.
Thứ nhất, vì cuộc bầu cử năm 2000 có nhiều mờ ám, Bush lại không được đa số phiếu của dân Mỹ,[3] nên ai cũng nghĩ là ông sẽ rụt rè, nhút nhát, vậy mà chính phủ Bush lại có những chính sách ngoại giao xác quyết khác thường. Vài sự kiện nổi bật: (1) Quyết định đơn phương bất chấp dư luận quốc tế (rút khỏi thoả ước Kyoto về khí quyển, chống lại Toà Án Hình Sự Quốc Tế, hủy bỏ hiệp ước ABM với Nga); (2) ủng hộ Israel gần như không điều kiện; (3) nhất quyết lật đổ Saddam Hussein, chiếm đóng Iraq. Chẳng những thế, dù bị chỉ trích, nhạo báng là đạo đức giả, là bịp dân, là chà đạp dân quyền (ngay với dân Mỹ), là bất chấp chủ quyền nước khác, Bush vẫn không chùn bước.
Francis Fukuyama và Phái Tân Bảo Thủ
Nguyễn
Trường
|
|
CHỦ NGHĨA BẢO THỦ
Minh Minh dịch
Chủ
nghĩa bảo thủ là một ý thức hệ thường được nghĩ về như tìm cách giữ gìn hay bảo tồn một số thực tại nào
đó. Tuy nhiên, giống với chủ nghĩa tự do, ý thức hệ của chủ nghĩa bảo thủ khá
phức tạp và đa chiều. Không có một hình thức chủ nghĩa bảo thủ duy nhất. Thực vậy,
chúng ta đã thảo luận một dạng chủ nghĩa bảo thủ - chủ nghĩa bảo thủ tự do cổ
điển [bài CHỦ NGHĨA TỰ DO]. Các nhà bảo thủ tự do cổ điển ủng hộ một chính phủ
nhỏ và chủ nghĩa tư bản thịnh vượng. Tuy nhiên, có một nhóm khác của các nhà bảo
thủ lấy các ý tưởng của họ từ những lời dạy của triết gia thế kỉ 18 Edmund
Burke. Những nhà bảo thủ theo trường phái Burke này được gọi là các nhà bảo thủ
truyền thống, và ý thức hệ của họ khác rất nhiều với ý thức hệ của các nhà bảo
thủ tự do cổ điển.
Giới thiệu về Burke
TIỂU SỬ
EDMUND BURKE (12/1/1729 – 9/6/1797), triết gia
và chính khách Anh, được bầu vào Nghị viện Anh năm 37 tuổi với tư cách là thành
viên của đảng Whig (viết tắt chữ Whiggamore. Được thành lập vào cuối thế kỷ 17
đến đầu thế kỷ 19 ở Anh, đảng Whig tìm cách hạn chế quyền hành của nhà vua và
gia tăng quyền hành của Nghị viện).
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)







