David
Williams
Nguyễn Thị Hường và đồng nghiệp dịch
Trong một xã hội
pháp quyền, nguyên tắc pháp quyền cơ bản là quyền lực của chính quyền phải chịu
ràng buộc trong khuôn khổ các nguyên tắc pháp lý bền vững, được bảo vệ bởi một
bản hiến pháp khó thay đổi. Để pháp quyền trở thành hiện thực, hệ thống tòa án cần
được đào tạo về chuyên môn, trung thành với pháp luật, và đặc biệt phải được đảm
bảo tính độc lập cao.
Quyền lực chính quyền phải chịu ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý bền
vững
Ở một số quốc
gia, chính quyền hoàn toàn tự do làm bất cứ điều gì mà họ muốn mà không phải chịu
bất cứ ràng buộc nào từ bên ngoài. Ở những nơi này, chính quyền nắm quyền lực tối
cao. Họ dùng luật để cai trị người dân, nhưng chính họ lại không phải là đối tượng
chịu điều chỉnh bởi bất cứ một hệ thống những nguyên tắc pháp lý tối thượng nào
đứng trên những mong muốn của họ. Những quốc gia như thế được gọi là những quốc
gia dụng pháp trị (rule by law): luật pháp chỉ là công cụ của những người
có quyền lực dùng để thống trị người khác. Kinh nghiệm thế giới cho thấy những
chính quyền như thế là rất nguy hiểm cho người dân. Những chính quyền này có thể
vi phạm quyền của công dân, như tước đoạt đất đai tùy tiện hay nhũng nhiễu hối
lộ. Dù có thể họ được bầu lên một cách dân chủ nhưng sau đó họ có thể toan tính
cầm quyền mãi mãi và giao những vai trò quan trọng trong chính quyền cho thân bằng
quyến thuộc của họ. Sau một cuộc bầu cử, phe thắng cử có thể dùng quyền lực mới
giành được để đàn áp đối lập, như bằng cách đặt các đảng chính trị khác ra
ngoài vòng pháp luật và bỏ tù lãnh đạo của các đảng đó, hoặc chỉ dành những quyền
lợi tài chính cho những người đã ủng hộ họ mà không dành cho ai khác.
Nếu được cho
phép có quyền hạn tối thượng, một chính quyền có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn
mà không chịu trách nhiệm trước người dân. Một chính quyền như thế sớm muộn
cũng sẽ trở nên một chính quyền áp bức. Khi quyền lực không bị kiềm chế và kiểm
soát, người đức hạnh cũng có khuynh hướng trở nên bạo ngược.
Vì vậy, để bảo vệ
quyền lợi của người dân, không thể để chính quyền có thể tự do làm bất cứ điều
gì họ muốn. Thay vào đó, chính quyền phải bị ràng buộc bởi những nguyên tắc
pháp lý bền vững. Những nguyên tắc này, bên cạnh những ràng buộc khác, là nhằm
bảo vệ quyền cá nhân, định ra những cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng, và
giới hạn những gì những người thắng cử có thể làm với những người thất cử. Những
quốc gia có chính quyền như thế được gọi là những quốc gia pháp quyền
(rule of law): luật pháp, chứ không phải chính quyền, mới là thực thể có
quyền lực cuối cùng. Ngày nay hầu như mọi người đều tin rằng pháp quyền là yếu
tố quan trọng cho một chính quyền hợp thức và công minh.
Pháp quyền được bảo vệ hữu hiệu nhất bởi một bản hiến pháp khó thay đổi
Pháp quyền được bảo vệ hữu hiệu nhất bởi một bản hiến pháp khó thay đổi
Nhiều quốc gia dụng pháp trị muốn trở thành pháp quyền. Trong quá trình chuyển đổi, họ phải tìm
cách thiết lập và bảo vệ các nguyên tắc pháp lý bền vững nhằm hạn chế quyền hạn
của chính quyền. Nếu người dân không thực sự coi trọng nguyên tắc pháp quyền,
thì nền pháp quyền đó sẽ không phát triển. Vì vậy, để bảo vệ nền pháp quyền, đầu
tiên có thể tính đến yếu tố văn hóa: một xã hội coi trọng pháp quyền là điều kiện
cần để tạo nền tảng cho một nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, yếu tố văn hóa
không đủ, vì chính quyền không phải lúc nào cũng tôn trọng ý chí của nhân dân.
Do đó, minh định các nguyên tắc pháp quyền trong một hiến pháp được viết ra và
tồn tại lâu dài là cần thiết.
Hiến pháp bảo vệ
pháp quyền bằng nhiều cách.
- Thứ nhất,
bởi vì hiến pháp được soạn thảo với những điều khoản cụ thể và bất kỳ ai quan
tâm cũng có thể nắm bắt ngay nội dung của pháp quyền, cũng như những quy tắc
pháp lý nhằm bảo vệ người dân mà pháp quyền đòi hỏi chính quyền phải tôn trọng.
Điều đó cũng có nghĩa là giới hạn quyền lực của các quan chức chính quyền cũng
được đề ra cụ thể. Nếu họ không tôn trọng những giới hạn đó, các quan chức khác
và công dân sẽ có cơ sở pháp lý, vốn đã được viết ra một cách rõ ràng, để áp dụng
nhằm bảo vệ hiến pháp và kiểm soát những quan chức vi phạm.
- Thứ hai,
xét theo một góc độ lý tưởng, việc toàn dân tham gia làm ra hiến pháp giúp họ
trực tiếp xây dựng và xác lập các “pháp quyền” cho đất nước. Khi đó, thành quả
lập hiến đại chúng sẽ bảo vệ nền pháp quyền hữu hiệu hơn nhiều so với một bản
hiến pháp áp đặt bởi các cơ quan quyền lực. Bởi vì, khi quần chúng tham gia thiết
lập nền pháp quyền cho chính quốc gia của họ, họ sẽ có cơ hội đề ra những
nguyên tắc pháp quyền đáp ứng được nhu cầu và hoàn cảnh cụ thể của họ. Qua đó
giúp các cơ quan quyền lực được giới hạn bởi những nguyên tắc pháp quyền phù hợp
để vận hành tốt hơn, và sinh hoạt chính trị của đất nước cũng sẽ lành mạnh hơn.
Chính trị lành mạnh hơn sẽ tạo ra những điều kiện sống tốt hơn: kinh tế phát
triển hơn, trường học và y tế tốt hơn, bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, v.v… Nói
một cách khác, hiến pháp được toàn dân thông qua sẽ góp phần cải thiện cuộc sống
của mỗi người dân. Kết quả là người dân sẽ thấy gắn bó và muốn bảo vệ hiến
pháp: nếu hiến pháp đã được làm ra để bảo vệ người dân, người dân cũng sẽ muốn
bảo vệ nó.
- Thứ ba,
một bản hiến pháp tốt sẽ phân chia quyền lực cho nhiều cơ quan nhà nước khác
nhau, do đó sẽ rất khó cho một cá nhân hoặc một cơ quan nhà nước thâu tóm hết tất
cả quyền lực. Kết quả là, nếu một cá nhân hoặc cơ quan nhà nước tìm cách vi phạm
hiến pháp, những cá nhân hoặc cơ quan nhà nước khác có thể ngăn chặn các vi phạm
đó. Ví dụ rõ ràng nhất là một cơ chế bảo vệ hiến pháp, dù đó là một tòa án hoặc
một cơ quan bảo hiến nào khác, sẽ xem xét kỹ lưỡng văn bản và hành động của các
quan chức để xác định xem họ có hành xử phù hợp với hiến pháp hay không. Tất
nhiên, cơ quan bảo hiến không phải là định chế duy nhất có thể bảo vệ pháp quyền.
Nếu một quan chức, ở bất kể cương vị nào, hành xử một cách vi hiến, các thành
phần khác của hệ thống chính trị có thể có khả năng kiểm soát và ngăn chặn quan
chức đó – các thành phần khác ở đây có thể là cơ quan lập pháp, các cơ quan
hành chính, chính quyền địa phương, công dân, hoặc thậm chí là thành viên nội
các. Như vậy, một bản hiến pháp tốt không chỉ xác định các nguyên tắc pháp quyền,
nó còn cần đặt ra một cơ cấu chính quyền để bảo vệ các nguyên tắc pháp quyền
đó.
- Cuối cùng,
một hiến pháp tốt phải là một hiến pháp khó sửa đổi và không cần phải sửa đổi
thường xuyên. Tốt nhất là những sửa đổi hiến pháp phải được nhân dân phúc quyết
phê chuẩn. Sửa đổi hiến pháp chỉ có thể được thông qua bởi đa số hoặc thậm chí
siêu đa số phiếu thuận. Điều quan trọng nhất là chính quyền không được phép tự
sửa đổi hiến pháp. Khi bản hiến pháp được bảo vệ bằng cách này, nền pháp quyền
sẽ bền vững, vì một hiến pháp tốt chính là hiện thân của pháp quyền.
Những nguyên tắc pháp lý bền vững cốt lõi
Các quốc gia
khác nhau có thể chọn những nguyên tắc pháp lý khác nhau, phù hợp đối với hoàn
cảnh của quốc gia đó. Nhưng nền pháp quyền đòi hỏi một số nguyên tắc pháp lý cốt
lõi mà mọi quốc gia pháp quyền cần tuân thủ.
Có nhiều cách hiểu
khác nhau về “pháp quyền”, và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về một định
nghĩa phổ quát cho khái niệm này. Các chính trị gia hoặc các nhà bình luận đôi
khi sử dụng cụm từ này một cách mơ hồ mà không xác định ý nghĩa của nó. Các học
giả tuy chưa đạt đồng thuận về một định nghĩa nhất quán, nhưng ít ra họ cũng đề
xuất những định nghĩa cụ thể hơn. Đến nay, tất cả học giả đều đồng ý rằng,
trong một quốc gia pháp quyền, quyền lực nhà nước nhất thiết phải bị giới hạn bởi
một số nguyên tắc pháp lý bền vững. Nhưng các nguyên tắc pháp lý này cụ thể là
những gì thì họ chưa thống nhất. Một số học giả cho rằng nguyên tắc pháp quyền
đòi hỏi những quy chuẩn pháp lý minh bạch. Một số học giả khác
tin rằng pháp quyền đòi hỏidân chủ và quyền con người.
- Quy
chuẩn pháp lý minh bạch đòi hỏi khi các nhà lập pháp
phải soạn ra những điều luật rõ ràng, sao cho người dân dễ dàng nắm bắt các quy
định có liên quan đến đời sống của họ, nhằm hoạch định cuộc sống của họ cho phù
hợp. Chẳng hạn, luật hình sự không được mập mờ khi quy định những hành vi nào
là bất hợp pháp, để người dân biết và tránh các hành vi đó. Luật hợp đồng cần
rõ ràng về những biện pháp thi hành, dù đối với giao kèo mua đất hay thỏa thuận
thành lập hiệp hội kinh doanh, để người dân có thể quyết định một cách sáng suốt
trước khi đặt bút ký và chấp nhận những nghĩa vụ pháp lý đi kèm. Tương tự,
trong tất cả các lĩnh vực khác của pháp luật, người dân cần có điều kiện hợp lý
để nắm bắt luật pháp. Nếu không, nhà nước luôn có thể tùy tiện can thiệp và xâm
phạm vào cuộc sống của công dân mà họ không lường trước được – điều này cũng đồng
nghĩa với việc để cho chính quyền hành xử độc đoán. Để đảm bảo rằng mọi công
dân hiểu biết luật và điều chỉnh cuộc sống của họ cho phù hợp, quy chuẩn pháp
lý minh bạch đòi hỏi luật pháp phải được phổ biến công khai (không bí mật),
không hồi tố (không áp dụng đối với các hành vi trước khi luật được thông qua),
rõ ràng (để ai cũng có thể hiểu cụ thể các quy định pháp luật), và phổ quát (áp
dụng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo, yếu mạnh, quan chức hay
dân thường v.v…).
- Dân
chủ về
cơ bản là một chế độ chính trị trong đó người dân tự cai trị. Chế độ dân chủ đại
diện là phổ biến nhất: người dân tham gia vào những cuộc bầu cử có tính tự do,
công bằng, và thật sự có tính đại diện cao cho những quyền lợi và nhu cầu thực
tiễn phong phú, đa dạng của người dân, từ đó bầu ra những dân biểu thực sự có
năng lực để thay mặt họ quản lý nhà nước. Nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi chế độ
dân chủ để pháp quyền được thực thi, nhưng nó không chỉ định một hình thức dân
chủ cụ thể nào, miễn là người dân thực sự kiểm soát chính quyền chứ không phải
là chính quyền cai trị họ. Vì có nhiều chế độ dân chủ khác nhau, mỗi quốc gia
có thể lựa chọn chế độ mà họ cho là phù hợp. Một số nước theo tổng thống chế, một
số khác theo chế độ nghị viện. Một số nước chọn chế độ lập pháp lưỡng viện,
trong khi đó một số khác lại chọn lập pháp đơn viện. Một số nước chọn nguyên tắc
đại diện theo tỷ lệ, một số khác theo hệ thống đa số đại diện. Và còn nhiều ví
dụ khác.
- Quyền
cá nhân thuộc phạm vi tự chủ, là quyền đòi hỏi có được
những điều kiện cần thiết cho những lĩnh vực đời sống quan trọng nhất của cá
nhân, trước hết là với tư cách công dân, như quyền bầu cử, hay với tư cách cá
nhân riêng tư, như quyền thành hôn. Chính quyền không thể xâm phạm các
quyền này, trừ những trường hợp đặc biệt cần thiết, như khi an ninh quốc gia
đang bị đe dọa nghiêm trọng, hay trong nỗ lực ngăn chặn một âm mưu khủng bố nơi
công cộng. Tuy nhiên, chính quyền không thể hạn chế quyền của các cá nhân chỉ
đơn giản với lý do chung chung, ví dụ như “trật tự công cộng”. Hầu hết những
người cổ vũ pháp quyền đều tin rằng mọi quốc gia phải tôn trọng một số quyền
căn bản, vốn thường được gọi là “nhân quyền” trong luật quốc tế. Bên cạnh những
quyền căn bản đó, quốc gia có thể lựa chọn bảo vệ những quyền cá nhân khác, tùy
thuộc hoàn cảnh cụ thể của từng nước. Ví dụ, hiến pháp Hoa Kỳ công nhận quyền sở
hữu súng tư nhân, nhưng không bảo vệ quyền hưởng y tế công cộng; ngược lại, hiến
pháp của Đức lại bảo vệ quyền hưởng y tế công cộng mà không cho phép cá nhân sở
hữu súng.
Như vậy, rõ ràng
định nghĩa khái niệm “pháp quyền” chỉ là một quy ước, có thể mang bất kỳ ý
nghĩa gì mà một xã hội quyết định. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, để bảo vệ
quyền lợi của người dân, một nền pháp quyền đòi hỏi chính quyền phải bị giới hạn
bằng những nguyên tắc pháp lý bền vững. Vì vậy, khi muốn xác định ý nghĩa của
“pháp quyền” cho một quốc gia, câu hỏi thực sự cần được đặt ra là “chúng ta
đang muốn đặt ra trong hiến pháp những giới hạn pháp lý lâu dài nào đối với
chính quyền?” Hiện nay, hầu như cả thế giới đều đồng thuận rằng một chính quyền
tốt là một chính quyền dân chủ, tôn trọng các quyền cá nhân, và chỉ hành xử
theo các quy chuẩn pháp lý minh bạch.
Để
pháp quyền trở thành hiện thực, hệ thống tòa án cần đảm bảo tính độc lập, được
đào tạo chuyên môn, và trung thành với pháp luật
Pháp quyền là
các nguyên tắc pháp lý được soạn thảo trong hiến pháp nhằm giới hạn quyền lực của
chính quyền. Chính quyền không thể coi nhẹ các nguyên tắc này, vì quyền lực
chính quyền bị giới hạn bằng pháp luật là đòi hỏi tiên quyết của pháp quyền.
Tuy vậy, chỉ đề ra các nguyên tắc pháp quyền là chưa đủ, còn cần có cơ quan áp
dụng và giám sát việc thi hành các nguyên tắc này.
Toà án, hoặc các
định chế tương tự, không có nhiều quyền lực để thực thi quyết định họ thông qua
– như ngạn ngữ thường nói, tòa án “không có tiền mà cũng chẳng có vũ khí.” Chiếu
theo các tiêu chuẩn đánh giá quyền lực thông thường, tòa án là một trong những
định chế nhà nước yếu nhất. Nếu một bộ phận chính quyền cố ý vi phạm pháp luật,
chỉ có nhân dân (qua cơ chế chính trị dân chủ – bầu cử) hoặc các bộ phận khác của
chính quyền (qua kiểm soát và cân bằng quyền lực) mới có sức mạnh ngăn chặn các
vi phạm đó. Dù vậy, tòa án, hoặc các định chế bảo hiến, giữ một vai trò khác
nhưng không kém phần quan trọng: họ có thể giải thích luật, giúp nhân dân và
các cơ quan khác của chính quyền biết một người hoặc một cơ quan chính quyền
đang tìm cách vi phạm pháp luật. Với căn cứ chính tắc là kết luận của toà án,
nhân dân và các cơ quan công quyền có quyền lực mạnh hơn tòa án, sẽ hợp lực để
bảo đảm pháp quyền được thực thi.
Để làm tốt vai
trò của mình, tòa án không cần nhiều tiền hoặc cảnh sát hỗ trợ. Yếu tố đầu tiên
tòa án cần là sự độc lập với các cơ quan khác trong chính quyền,
để tòa án có thể đảm bảo tất cả các bộ phận của chính quyền tuân thủ pháp quyền
mà không có sự thiên vị hoặc nể nang, kiêng dè. Trong công việc của mình, các
thẩm phán đôi khi sẽ cần phải đưa ra những quyết định gây tranh cãi, có thể làm
một số quan chức chính quyền khó chịu, và đôi khi có thể làm đa số người dân phật
ý. Để có thể thực hiện bổn phận, các thẩm phán cần phải được bảo vệ để tránh bị
trả thù: an ninh thân thể của họ phải được bảo vệ, và nhiệm kỳ của họ phải được
bảo đảm, cùng với mức lương cố định.
Ngoài ra, bản
thân các thẩm phán không được coi họ là chính trị gia. Vai trò chính trị gia
đòi hỏi nhà chính trị phải trung thành với cử tri hoặc với các chính trị gia
khác. Trong khi đó, các thẩm phán phải tâm niệm bản thân mình làm việc theo
chuyên môn và trung thành với pháp luật. Để làm được điều đó, các thẩm phán phải
là những người được đào tạo chuyên sâu về luật. Các thẩm phán cũng cần phải
trung dung: họ không được dính líu hay phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực khác
của chính quyền, các tổ chức chính trị, hoặc các nhóm lợi ích kinh tế. Với tư
cách công dân, họ có quyền đi bầu cử. Thậm chí, họ có thể là một thành viên của
một tổ chức chính trị, nhưng không được tham gia vào các hoạt động đảng chính
trị, hay nắm giữ chức vụ trong các đảng chính trị, nếu những điều này ảnh hưởng
tới tính trung dung mà vai trò của một người thẩm phán đòi hỏi.
Nguồn:http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=4890