Hiển thị các bài đăng có nhãn Đạo đức học quy phạm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đạo đức học quy phạm. Hiển thị tất cả bài đăng

Tóm tắt lý thuyết đạo đức của Kant


Khái niệm chính – Mệnh lệnh nhất quyết

Đây là thuật ngữ mà Kant dùng để chỉ “Luật đạo đức”. Với cụm từ “Luật đạo đức” ông muốn nói rằng bổn phận đạo đức là một bổn phận có tính bắt buộc, và không có ngoại lệ đối với mọi tác nhân đạo đức [con người].

Sự hình thành Mệnh lệnh nhất quyết

1. Luôn hành động theo cách, mà bạn có thể ý chí rằng châm ngôn hành động của bạn sẽ trở thành một Luật phổ quát.

Đây là yêu cầu của sự Phổ quát hóa (mọi người sẽ hành động theo cùng cách)

2. Luôn hành động theo cách, mà bạn đối xử với Con người, dù đó là chính bạn hay là người khác, như là mục đích trong chính họ chứ không phải là phương tiện [cho một mục đích].

Yêu cầu về Phẩm giá của con người (không sử dụng con người)

3. Luôn hành động theo cách mà bạn vừa là nhà lập pháp và vừa là người tuân hành luật pháp trong vương quốc của “các mục đích”.

Yêu cầu về Tính có đi có lại (công bằng từ mọi góc nhìn)

TRIẾT HỌC ĐẠO ĐỨC CỦA KANT
  
A. Khởi điểm

1. Từ góc độ đạo đức, tất cả chúng ta đều bình đẳng. Không ai có đặc quyền đặc lợi.
2. Kết quả của hành động không liên quan đến giá trị đạo đức của hành động.
Những thứ duy nhất mà con người phải chịu trách nhiệm đạo đức là những thứ nằm dưới sự kiểm soát của anh ta. Kết quả của hành động KHÔNG nằm dưới sự kiểm soát của anh ta. Do đó, anh ta không phải chịu trách nhiệm đạo đức cho các kết quả của hành động của mình.
3. Tuy nhiên, Ý CHÍ của anh ta hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của anh ta (ít nhất đối với người trưởng thành khỏe mạnh), do đó ý chí của anh ta là cơ sở duy nhất cho việc đánh giá về mặt đạo đức đối với các hành động của anh ta.

Do đó, Kant tuyên bố rằng thứ duy nhất tốt lành vô điều kiện đó là một ý chí thiện hảo. Điều này không có nghĩa rằng không có những thứ tốt lành khác, nhưng chúng chỉ là những thứ tốt lành “có điều kiện” (chỉ là cái tốt lành công cụ).

Mọi người có thể có lòng can đảm, sự kiên định, vv..nhưng đó không phải là sự thiện hảo. Để một người trở nên tốt lành về mặt đạo đức (thiện hảo), thì anh ta phải có một ý chí thiện hảo. Một người có thể có các thuận lợi tự nhiên hay xã hội như (giàu có, khỏe mạnh, thông mình) hay các phẩm chất (can đảm, nguyên tắc, thân thiện) vẫn không phải là một người thiện hảo – (hãy nghĩ về một kẻ giết người khỏe mạnh, giàu có, trí tuệ, can đảm, nguyên tắc và thân thiện)

Giống như Aristotle, Kant phân biệt giữa:

1. Sự sử dụng lý tính trong công việc trí tuệ (Lý tính thần túy hay lý thuyết)
2. Sự sử dụng lý tính đối với các vấn đề đạo đức (Lý tính thực hành)

Không như Aristotle, Kant cho rằng việc cư xử đạo đức không đảm bảo cho chúng ta sẽ đạt được hạnh phúc. Đúng hơn là, ông chỉ cho rằng ý chí thiện hảo là tuyệt đối cần thiết cho sự xứng đáng với hạnh phúc.

B. Ý chí thiện hảo

Vậy, nếu không có gì được coi là thiện hảo vô điều kiện ngoài một “Ý chí thiện hảo” thì dường như mọi thứ phụ thuộc vào khái niệm này của Kant. Vậy, với Kant, ý chí thiện hảo là gì?

 “Ý chí thiện hảo là ý chí hành động một cách tự do và tôn trọng luật đạo đức”

Để hiểu điều này, chúng ta phải giải quyết ba câu hỏi con?

  • “Hành động một cách tự do” là gì?
  •  “Luật đạo đức” là gì?
  •  “Tôn trọng luật đạo đức” là như thế nào?

1.    “Hành động một cách tự do” là gì?
  • Làm bất cứ điều gì mình muốn?
Không phải. Điều mà bạn “muốn” được áp đặt lên bạn bởi các sức mạnh bên ngoài bạn (Tự nhiên, Sự nghiện, Kẻ chuyên chế, Sự thôi miên, vv). Tự nhiên đặt định các ước muốn vào trong chúng ta; chúng ta không tự do lựa chọn chúng.
  • Sống theo luật do ai đó thiết lập?
Không phải. Rõ ràng không với lý do giống như trên.
  • Không sống theo bất cứ luật nào?
Không phải. Đây không phải là tự do, nhưng chỉ là sự ngẫu nhiên.
  • Sống theo luật do mà mình ban bố cho chính mính với tư cách là một tồn tại tự do?
Đúng rồi.

Nhưng cụm từ “chính mình” không được định nghĩa bởi các đặc điểm mà tự nhiên áp đặt lên ta (các thiên hướng tự nhiên). Các đặc điểm thường nghiệm của một cá nhân do tự nhiên áp đặt lên cá nhân đó, vì vậy không đặc điểm nào trong số những đặc điểm này có thể xếp vào luật mà chúng ta tự ban bố cho chính mình, nếu đó là luật “tự do”. Trở nên tự do, chúng ta phải sống cuộc sống của mình theo luật mà chúng ta tự ban bố cho chính mình, “chính mình” ở đây không phải là một cái tôi thường nghiệm, mà đúng hơn phải là một cái “tôi” siêu nghiệm.

Nhưng một luật như vậy sẽ như thế nào? Luật tự do là gì? Hóa ra, luật được lựa chọn tự do là Luật đạo đức.

Một người mà hành vi của anh ta bị chi phối bởi các thiên hướng của anh ta, [những ước muốn và ham muốn này do tự nhiên áp đặt], là một người nô lệ, và do đó không thể hành động tự do. Đối với người như vậy, hành vi được quyết định bởi sự lôi kéo hay thúc đẩy của sự vật.

Nhưng, khi anh ta hành động vì tôn trọng cho luật đạo đức, luật mà anh ta tự do lựa chọn để tuân theo, luật mà anh ta nhận ra như một tác nhân thuần lý, không bị chi phối bởi các thiên hướng, thì anh ta hành động một cách tự trị (tự do).

2.     Luật đạo đức và hành động đúng đắn là gì?
  
Kant phân biệt giữa hai dạng mệnh lệnh:

  • Mệnh lệnh nhất quyết: áp dụng cho tất cả và không có ngoại lệ
  • Mệnh lệnh giả thiết: áp dụng chỉ cho một số người trong một số hoàn cảnh nào đó
o   (“Nếu muốn X thì làm Y”, hoặc phổ biến hơn, “nếu bạn muốn x thì hãy thực hiện Y”).

Lưu ý: Mệnh lệnh “Không được hút thuốc” có thể trông giống mệnh lệnh nhất quyết. Nhưng nó thực sự là một mệnh lệnh giả thiết, “nếu bạn muốn tránh ung thư phổi, ung thư họng, ung thư miệng, bệnh tim mạch, và da nhăn nheo sớm, thì đừng hút thuốc”.

 Mệnh lệnh giả thiết có thể là:

  • Thực dụng: mệnh lệnh về sự khôn ngoan
  • Kĩ thuật: mệnh lệnh về kĩ năng

Mệnh lệnh giả thiết là không có tính bắt buộc; chúng chỉ áp dụng cho một số người, trong một số hoàn cảnh.

Trái lại, luân lý là có tính bắt buộc. Tất cả các tác nhân tự do bắt buộc phải hành động đạo đức mọi lúc. (Ai nên làm điều đúng đắn? Mọi người. Khi nào họ nên làm điều đúng đắn? Mọi lúc. Họ nên làm điều đúng đắn ở đâu? Mọi nơi. vv) Do đó, luân lý (Luật đạo đức) là một Mệnh lệnh nhất quyết. Nghĩa là, nó áp dụng cho mọi tác nhân đạo đức [con người] mọi lúc, mọi nơi mà không có sự ngoại lệ.

Bạn (về mặt luân lý) phải theo sau mệnh lệnh nhất quyết dù bất cứ điều gì bạn muốn.

Mệnh lệnh giả thiết có tính thường nghiệm, tức là được khám phá thông qua kinh nghiệm.

Mệnh lệnh nhất quyết có tính tiên nghiệm – chúng chỉ có thể khám khá thông qua lý tính thần túy thực hành, mà không phải bởi kinh nghiệm.

Lý tính thuần túy thực hành đưa ra các mệnh lệnh của nó: thần túy, vô điều kiện, và tuyệt đối.

Lưu ý: Điều hầu như phải theo sau yêu sách của ông là, từ lập trường đạo đức, tất cả chúng ta đều bình đẳng. Bất cứ bổn phận đạo đức nào áp dụng cho tôi cũng áp dụng cho mọi người và bất cứ bổn phận nào áp dụng cho mọi người cũng áp dụng cho tôi. Tôi không “đặc biệt” để cho có các bổn phận đặc biệt hay các đặc quyền đặc lợi chỉ áp dụng cho tôi.

Vì vậy, đối với Kant, ta phải luôn làm điều gì mà bổn phận đòi hỏi ta và ta phải luôn kiềm chế làm điều gì mà bổn phận ngăn cấm ta.

3.    “Tôn trọng luật đạo đức” là như thế nào? 

Đôi khi, làm điều đúng cũng là điều chúng ta muốn làm vì các lý do ích kỉ hoặc khôn ngoan. Giả sử luật đạo đức yêu cầu bạn thực hiện điều y. Giả sử tiếp rằng, thực hiện điều y cũng mang đến cho chúng ta điều chúng ta muốn, đó là x, (nếu bạn muốn x thì thực hiện y). Vậy kết quả của Mệnh lệnh giả thiết (thực hiện y), đồng nhất với kết quả của mệnh lệnh nhất quyết (thực hiện y). Trong các trường hợp như vậy, Kant nói, giá trị đạo đức của một hành động phụ thuộc vào động cơ đằng sau hành động chứ không phải chính hành động. Vì vậy ta có thể hỏi “Cô ấy có làm điều đúng đắn?” Hành động của cô ấy có phù hợp với Mệnh lệnh nhất quyết? Nhưng sâu xa hơn, ta có thể hỏi, cô ấy làm điều đúng với lý do đúng? Theo Kant, với câu hỏi cuối, thì không chỉ cô ấy làm điều đúng, mà hành động của cô ấy còn có giá trị đạo đức.

Đối với Kant, sẽ rất khó, nếu không muốn nói là không thể để biết động cơ của chúng ta khi làm một điều nào đó, đặc biệt nếu bổn phận đạo đức của chúng ta cũng là thứ chúng ta muốn thực hiện.

Vì vậy một người có thể hành động đúng đắn, (phù hợp với luật đạo đức), nhưng, nếu nó được thúc đẩy bởi các yếu tố vị kỉ, thì hành động đó không có giá trị đạo đức. Xem xét nếu một ai đó bị buộc phải góp tiền từ thiện hoặc nếu ái đó tài trợ tiền từ thiện đơn thuần chỉ để được ghi tên trong sổ sách. Đây là những hành động phù hợp với luật đạo đức, nhưng không ai làm điều đó vì tôn trọng cho luật đạo đức. Những hành động như vậy không có giá trị đạo đức. Chúng không bắt nguồn từ một ý chí thiện hảo. Chúng ta không thể nói rằng người đó hành động sai trái, vì người đó không vi phạm Mệnh lệnh nhất quyết, tuy nhiên, đó không phải là ví dụ về hành động của một ý chí thiện hảo hay tự do.
Lưu ý: Kant đặt một sự nhấn mạnh rất lớn cho dự định đằng sau hành động, điều hoàn toàn bị đạo lý thuyết đức học kết quả lờ đi.

Một hành động có giá trị đạo đức (tức là thiện hảo) nếu và chỉ nếu nó:

·       phù hợp với luật đạo đức (đúng – cho phép về mặt đạo đức)
·       không được thực hiện chỉ đơn thuần do thiên hướng, sở thích, bất kể thiên hướng đó là vị kỉ hay khoan dung và;
·       Được thực hiện từ sự tôn trọng cho các luật đạo đức

Chủ cửa hàng hành động từ lý do tư lợi, khi không lừa đảo khách hàng, đó là hành động khôn ngoan, chứ không phải là hành động đạo đức.

Chủ cửa hàng người hành động từ sự cảm nhận về lòng trắc ẩn, khi không lừa đảo khách hàng, cũng không thể được cho là hành động một cách đạo đức vì nó bị thúc đẩy bởi cảm xúc cá nhân.

Ban đầu điều này có thể khiến chúng ta cảm thấy kì lạ, vì nhiều người nghĩ rằng cảm xúc (chính xác hơn là sự đồng cảm và lòng trắc ẩn) chính là cơ cở và động cơ của các hành động đạo đức (Hume). Nhưng Kant phủ nhận điều này. Xem xét trường hợp, “điều gì sẽ xảy ra nếu người chủ đang không cảm thấy một sự đồng cảm trong ngày đó? Nếu lý do duy nhất mà anh ta hành động đạo đức là vì một cảm xúc, thì không có gì đảm bảo rằng anh ta là đạo đức hoặc quan tâm đến đạo đức. Nhiều thứ mất đạo đức đã và đang được thực hiện nhân danh tình yêu và lòng trắc ẩn. (Nghĩ về trường hợp một người mẹ, người giết 5 đứa con của mình để giúp chúng đến thiên đàng).

Kant ấn định một Bổn phận đạo đức: nhất thiết hành động từ sự tôn trọng luật đạo đức.

Tôn trọng cho luật đạo đức: một người tôn trọng cho luật đạo đức được thúc đẩy để hành động. 

Tôn trọng cho luật đạo đức có thể thúc đẩy một người thực hiện điều mà, nếu khác hơn anh ta sẽ không lựa chọn để thực hiện và không thực hiện điều anh ta muốn thực hiện.

Một hành động là đúng nếu và chỉ nếu nó phù hợp với luật đạo đức và nó có giá trị đạo đức nếu và chỉ nếu nó được thực hiện từ sự tôn trọng cho luật đạo đức.


Read More...

Ðạo đức học

Nguyễn Ước
Read More...

Một lý thuyết về công bằng

Giới thiệu
John Rawls (1921 – 2002), triết gia người Mỹ, là một trong những triết gia chính trị quan trọng nhất trong mấy trăm năm qua. Ông bảo vệ các ý tưởng dân chủ tự do trong các tác phẩm Một lý thuyết về công bằng [A Theory of Justice] (các trích đoạn được rút ra từ tác phẩm này) và Chủ nghĩa tự do chính trị [Political Liberalsim].
Trong các tác phẩm này Rawls đi tìm kiếm các nguyên tắc công bằng làm cơ sở để quản trị xã hội. Ông cho rằng chúng ta sẽ chấp nhận các nguyên tắc mà tất cả chúng ta đồng ý khi ở dưới các điều kiện giả tưởng nào đó (“vị trí ban đầu”) [the original position]. Tưởng tượng chúng ta là những người tự do và duy lý nhưng không biết vị trí của chúng ta trong xã hội (giàu hay nghèo, da trắng hay da đen, nam hay nữ…). Sự giới hạn về nhận thức này để đảm bảo sự vô tư; tức là, nếu chúng ta không biết chủng tộc của mình, thì chúng ta không thể vận động, lôi kéo người khác ủng hộ cho các nguyên tắc mang lại thuận lợi cho chủng tộc của mình. Các nguyên tắc công bằng là các nguyên tắc mà chúng ta đồng ý dưới những điều kiện này. Rawls cho rằng, trong vị trí ban đầu chúng ta sẽ đồng ý với “nguyên tắc tự do bình đẳng” [equal liberty principle], tức là nguyên tắc đảm bảo các quyền tự do như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận…bình đẳng cho mọi người. Chúng ta cũng sẽ đồng ý với “nguyên tắc khác biệt”[difference principle], tức là nguyên tắc này thúc đẩy sự phân phối bình đẳng sự thịnh vượng, ngoại trừ những sự phân phối bất bình đẳng mà mang lại lợi ích cho mọi người (bao gồm những người có điều kiện ít thuận lợi hơn trong xã hội) và cơ hội rộng mở đối với mọi người trên cơ sở bình đẳng.
Khi bạn đọc các trích đoạn, và hỏi chính bạn liệu vị trí ban đầu có là một khuôn khổ hợp lý để lựa chọn các nguyên tắc công bằng hay không? Hai nguyên tắc công bằng của Rawls có thuyết phục đối với bạn? Liệu chúng có là các nguyên tắc mà chúng ta sẽ lựa chọn dưới các điều kiện như Rawls miêu tả?
Vai trò của công bằng
Công bằng là đức hạnh đầu tiên của các thiết chế xã hội, cũng như chân lý đối với các hệ thống tư tưởng. Một lý thuyết dù vẻ ngoài hay ho và hợp lý đến đâu cũng phải bị bác bỏ hoặc xem xét lại nếu nó không đúng; tương tự như vậy với luật pháp và các thiết chế xã hội dù chúng có được xắp đặt tốt và hữu hiệu đến đâu nhưng vẫn cần phải cải cách hoặc hủy bỏ nếu chúng không công bằng. Mỗi người sở hữu những quyền không thể xâm phạm trên nền tảng công bằng mà ngay cả sự thịnh vượng của toàn bộ xã hội cũng không thể xâm phạm. Vì lý do này mà sự công bằng phủ nhận quan điểm cho rằng sự mất tự do của một số để tạo ra một lợi ích lớn hơn cho một số khác là điều đúng đắn. Vì là đức hạnh đầu tiên của các hoạt động của con người, chân lý và công bằng là không thể thỏa hiệp.
Những lập luận này dường như diễn tả một sự thuyết phục mang tính trực giác về địa vị đứng đầu của công bằng. Không nghi ngờ gì nữa chúng diễn tả quá thuyết phục. Và tôi muốn tìm hiểu xem liệu những lập luận này hay những lập luận tương tự với chúng có căn cứ hay không, và nếu có làm sao để giải thích. Với mục đích này, cần phải phác thảo ra một lý thuyết về công bằng mà dưới ánh sáng của nó những lập luận này có thể được giải thích và xác nhận.
Vị trí ban đầu
Mục đích của tôi là trình bày một khái niệm về công bằng mà nó khái quát hóa và mang tới một mức độ trừu tượng cao hơn so với khái niệm công bằng tìm thấy trong lý thuyết khế ước xã hội quen thuộc của Locke, Rousseau, và Kant. Để làm điều này tôi không nghĩ về khế ước ban đầu như là khế ước để đi vào một xã hội cụ thể hay để thiết lập một dạng chính quyền cụ thể. Thay vào đó, ý tưởng hướng dẫn là: đối tượng của một khế ước ban đầu là các nguyên tắc công bằng cho cấu trúc cơ bản của xã hội. Chúng là các nguyên tắc mà những người tự do và duy lý quan tâm đến việc thúc đẩy hơn nữa lợi ích riêng của họ sẽ chấp nhận ở một vị trí ban đầu bình đẳng [a initial position of equality] khi xác định các điều khoản nền tảng của sự liên kết của họ. Những nguyên tắc này sẽ điều chỉnh tất cả các phương diện khác; chúng xác định các kiểu hợp tác xã hội nào mà chúng ta có thể tham gia và các dạng chính quyền nào mà chúng ta có thể thiết lập. Nguyên tắc công bằng được xây dựng theo cách như vậy tôi gọi là công bằng như sòng phẳng [justice as fairness].
Trong công bằng như sòng phẳng, vị trí ban đầu bình đẳng tương ứng với trạng thái tự nhiên trong lý thuyết khế ước xã hội truyền thống. Dĩ nhiên, vị trí ban đầu này không được xem như là một hoàn cảnh lịch sử thực tế, mà ít nhiều như là một hoàn cảnh sơ khởi về văn hóa. Nó được hiểu đơn thuần như một hoàn cảnh giả thiết được sử dụng để đi đến một khái niệm nào đó về công bằng. Một trong số những đặc trương cơ bản của hoàn cảnh này là không ai biết về vị trí của anh ta trong xã hội, cũng như vận may liên quan đến sự phân bố các tài sản, năng lực tự nhiên, trí tuệ, sức khỏe …Nguyên tắc công bằng sẽ được lựa chọn đằng sau một bức màn vô minh [a vein of ignorance]. Điều này đảm bảo không ai thấy được các thuận lợi hay bất lợi bắt nguồn từ của sự may rủi tự nhiên hay của hoàn cảnh xã hội khi lựa chọn các nguyên tắc. Vì tất cả ở vào một hoàn cảnh tương tự nhau, và không ai có thể thiết kế các nguyên tắc mang lại thuận lợi cho hoàn cảnh cụ thể của anh ta, nên các nguyên tắc công bằng là kết quả của một sự thỏa thuận sòng phẳng. Điều này giải thích đặc điểm của tên gọi “công bằng như là sòng phẳng”: nó truyền đạt ý tưởng là: các nguyên tắc công bằng được đồng ý ở một ví trí ban đầu vốn là sòng phẳng.
Như tôi đã nói, công bằng như là sòng phẳng bắt đầu với một lựa chọn chung nhất trong tất cả các lựa chọn mà mọi người có thể lựa chọn cùng nhau, tức là, bắt đầu với lựa chọn các nguyên tắc đầu tiên của khái niệm công bằng, khái niệm quy định tất các phê phán và cải cách sau đó đối với các thiết chế xã hội. Sau khi đã lựa chọn được khái niệm công bằng, chúng ta có thể tin rằng mọi người sẽ đi đến lựa chọn một thể chế và một cơ quan lập pháp để ban hành luật, và tất cả phải phù hợp với các nguyên tắc công bằng đã được đồng ý ban đầu. Tình trạng của xã hội của chúng ta là công bằng nếu tiếp theo sau các thỏa thuận giả thiết này chúng ta đồng ý đi vào trong hệ thống các quy tắc cai trị chung vốn định hình trạng thái đó. Ngoài ra, với việc thừa nhận rằng vị trí ban đầu quyết định một tập hợp các nguyên tắc, thì hoàn toàn đúng đắn là bất cứ khi nào các thiết chế xã hội thỏa mãn những nguyên tắc này, những người liên quan đến chúng có thể nói với nhau rằng họ đang hợp tác trên các phương diện mà họ đồng ý, và nếu họ là những người tự do và bình đẳng, thì các quan hệ của họ với nhau là sòng phẳng. Với một nhận thức chung như vậy sẽ cung cấp cơ sở cho một sự chấp nhận ở phạm vi cộng đồng đối với các nguyên tắc công bằng tương ứng. Dĩ nhiên, không xã hội nào có thể là một hệ thống hợp tác mà con người đi vào tự nguyên theo nghĩa đen; mà mỗi người thấy mình sinh ra trong một hoàn cảnh cụ thể trong một xã hội cụ thể, và vị trí này sẽ ảnh hưởng về mặt vật chất tới các triển vọng cuộc sống của anh ta. Tuy nhiên một xã hội thỏa mãn các nguyên tắc công bằng như là sòng phẳng đến gần hơn với một xã hội như là một hệ thống tự nguyện, vì nó đáp ứng các nguyên tắc mà những người tự do và bình đẳng tán thành dưới các các điều kiện được coi là sòng phẳng. Theo nghĩa này các thành viên của nó là các thành viên tự trị và các nghĩa vụ mà họ thừa nhận là do họ tự áp đặt lên mình.
Một khi các nguyên tắc công bằng được nghĩ về như bắt nguồn từ vị trí ban đầu trong một trạng thái bình đẳng, thì câu hỏi đặt ra là liệu nguyên tắc công lợi có được chấp nhận hay không. Ngay tức thì, ta thấy câu trả lời là không, vì những người mà nhìn nhận chính họ như là những người bình đẳng, và được trao quyền để áp đặt các yêu sách lên người khác, sẽ không thể đồng ý với một nguyên tắc mà yêu cầu một cuộc sống ít triển vọng hơn cho một số chỉ vì mục tiêu mang lại lợi ích tổng thể lớn hơn cho số khác. Vì mọi người đều mong muốn bảo vệ lợi ích của chính mình, không ai có lý do để bằng lòng với một sự thiệt hại mãi mãi cho mình để mang lại sự thỏa mãn lớn hơn cho người khác. Vì không tồn tại sự rộng lượng vô biên và mãi mãi, một người duy lý sẽ không chấp nhận một cấu trúc cơ bản chỉ quan tâm đến việc tối đa tổng số những lợi ích mà không đếm xỉa gì đến ảnh hưởng lâu dài của nó lên các quyền và lợi ích cơ bản của anh ta. Do vậy, rõ ràng nguyên tắc công lợi không thích hợp với ý tưởng về một sự hợp tác xã hội giữa những người bình đẳng vì lợi ích lẫn nhau.
Thay vào đó, tôi khẳng định rằng mọi người trong vị trí ban đầu sẽ lựa chọn hai nguyên tắc khác: nguyên tắc thứ nhất yêu cầu sự bình đẳng khi gán các quyền và bổn phận cơ bản, trong khi nguyên tắc thứ hai cho rằng các bất bình đẳng về kinh tế và xã hội, như bất bình đẳng về sự giàu có và quyền lực, là chỉ công bằng khi chúng mang lại lợi ích cho mọi người, đặc biệt là đối với các thành viên có hoàn cảnh ít thuận lợi hơn trong xã hội.
Hai nguyên tắc công bằng
Bây giờ tôi sẽ trình bày hình thức tạm thời của hai nguyên tắc công bằng mà tôi tin sẽ được đồng ý ở vị trí ban đầu. Khi chúng ta tiếp tục, tôi sẽ xem xét một vài kiểu diễn đạt khác và từ đó, sự trình bày cuối cùng sẽ dần dần được mang lại.
Sự diễn đạt đầu tiên về hai nguyên tắc như sau:
Nguyên tắc thứ nhất: mỗi người có quyền bình đẳng đối với một sơ đồ toàn diện nhất các quyền tự do cơ bản tương đương không mâu thuẫn với một sơ đồ các quyền tự do tương tự của người khác.
Nguyên tắc thứ hai: sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội được xếp đặt sao cho chúng (a) được mong đợi (một cách có cơ sở) mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, và (b) quy định các vị trí và chức vụ luôn mở rộng đối với tất cả mọi người.
Dạng diễn đạt cuối cùng về hai nguyên tắc công bằng được đưa ra trong mục 46.1.
Các nguyên tắc này chủ yếu áp dụng cho cấu trúc cơ bản của xã hội để kiểm soát việc phân bổ các quyền và bổn phận, và điều chỉnh sự phân bố các lợi ích về kinh tế và xã hội. Từ các mục đích của một lý thuyết công bằng, sự diễn đạt của chúng tiền giả định là cấu trúc xã hội có thể được xem như có hai phần riêng biệt, trong đó nguyên tắc thứ nhất áp dụng cho phần này, và nguyên tắc thứ hai áp dụng cho phần kia. Tức là, chúng ta phân biệt giữa các khía cạnh của một hệ thống xã hội vốn định nghĩa và đảm bảo các quyền tự do bình đẳng cơ bản với các khía cạnh khác vốn xác định và thiết lập những sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội.
Các quyền tự do cơ bản được rút ra từ một danh sách các quyền tự do. Và quan trọng nhất trong số những quyền tự do này là các quyền tự do chính trị (quyền bầu cử và giữ các chức vụ công); tự do ngôn luận và lập hội; tự do ý thức và tự do tư tưởng; tự do khỏi sự đè nén về mặt tâm lý, cũng như sự bạo hành thể xác; quyền nắm giữ tài sản cá nhân và tự do khỏi mọi sự bắt giữ tùy tiện. Những quyền tự do này là bình đẳng theo nguyên tắc thứ nhất.
Nguyên tắc thứ hai áp dụng để phân phối thu nhập và tài sản, và để thiết kế các tổ chức với thẩm quyền và trách nhiệm khác nhau. Trong khi sự phân bố tài sản và thu nhập không cần bình đẳng, thì phải đảm bảo sự bình đẳng đối với sự phân bố các thuận lợi xã hội cho mọi người, và đồng thời, mọi người phải tiếp cận được các vị trí có quyền lực và trách nhiệm. Chúng ta áp dụng nguyên tắc thứ hai bằng cách để cho các vị trí đều rộng mở, và sau đó từ điều kiện này, phân bổ sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội sao cho mọi người có lợi.
Các nguyên tắc này được xắp xếp trong một trật tự với nguyên tắc thứ nhất ưu tiên so với nguyên tắc thứ hai. Trật tự này có nghĩa là bất cứ sự vi phạm đối với các quyền tự do cơ bản được bảo vệ bởi nguyên tắc thứ nhất là không thể biện minh, hoặc bồi thường cho, dù với một sự thuận lợi, hay lợi ích lớn hơn về kinh tế và xã hội. Những quyền tự do này là tối cao, và chúng chỉ bị giới hạn và thỏa hiệp khi chúng xung đột với các quyền tự do cơ bản khác. Vì chúng có thể bị giới hạn khi chúng xung đột với nhau, không quyền tự do nào trong các quyền tự do này là tuyệt đối; dù chúng được xắp đặt để hình thành một hệ thống, hệ thống này là làm mất đi tính bình đẳng giữa chúng.
Hai nguyên tắc này khá cụ thể về nội dung, và sự chấp nhận chúng dựa trên một số giả định nào đó mà cuối cùng tôi phải cố gắng giải thích và biện minh. Còn bây giờ, chỉ cần biết rằng các nguyên tắc này là các trường hợp đặc biệt của một khái niệm tổng quát hơn về công bằng được phát biểu như sau:
Tất cả mọi giá trị xã hội – sự tự do và cơ hội, thu nhập và tài sản, và các cơ sở xã hội của lòng tự trọng – phải được phân phối bình đẳng trừ khi một sự phân phối không bình đẳng của những giá trị như vậy mang lại lợi ích cho tất cả mọi người.
Do đó, bất công đơn giản là sự bất bình đẳng không mang lại lợi ích cho tất cả.
Câu hỏi nghiên cứu
1 Rawls muốn nói điều gì khi ông viết “Công bằng là đức hạnh đầu tiên của thiết chế xã hội”. Giải thích vai trò không thể thỏa hiệp của công bằng.
2 Giải thích vị trí ban đầu và vai trò của nó trong lý thuyết công bằng của Rawls. Màn vô minh là gì và mục đích của nó là gì?
3 Rawls có tin rằng xã hội đã được bắt đầu bằng một khế ước giữa các cá nhân? Nếu không, thì mục đích của ý tưởng khế ước xã hội là gì?
4 Rawls có nghĩ rằng khi mọi người ở vị trí ban đầu họ sẽ lựa chọn nguyên tắc công lợi? Tại sao có hoặc tại sao không?
5 Hai nguyên tắc công bằng của Rawls là gì? Cho ví dụ về cách áp dụng của mỗi nguyên tắc.
6 Nguyên tắc khác biệt của Rawls bị phê phán bởi cả những người theo chủ nghĩa Marx lẫn những người theo chủ nghĩa tư bản. Bạn hãy cho biết sự chỉ trích mà họ có thể đưa ra là gì?  
Nguồn: “Ethics Contemporary Readings”; Routledge Contemporary Readings in Philosophy; tr 229-234.
Read More...

Thuyết công lợi

Giới thiệu
John Stuart Mill (1806 – 1873), triết gia người Anh, là người có ảnh hưởng to lớn đối với triết học đạo đức và triết học chính trị đương đại. Vì vậy chúng tôi nghĩ rằng sẽ rất hữu ích khi kể đến một số trích đoạn trong tác phẩm Thuyết công lợi của ông. Các tác phẩm khác của ông bao gồm Bàn về tự do, Bàn về chính thể đại diện, và Sự lệ thuộc của phụ nữ.
Mill là người theo chủ nghĩa kết quả trong lĩnh vực đạo đức học. Ông cho rằng sự đúng sai của một hành động chỉ được quyết định bởi các kết quả của nó – cụ thể hơn, bởi nó có mang lại hạnh phúc tối đa hay không.
Khi bạn đọc các trích đoạn, hãy tự hỏi rằng liệu các hành động có nên được đánh giá chỉ bởi kết quả hay không. Và liệu một hành động có bao giờ sai nếu nó tạo ra kết quả tốt nhất có thể ở một hoàn cảnh nào đó? Nếu bạn quen thuộc với lý thuyết của Kant, hãy tự hỏi xem nó khác với lý thuyết của Mill như thế nào và cái nào được xem là tốt hơn.
Nguyên tắc hạnh phúc tối đa
Công lợi, hay còn gọi là nguyên tắc Lợi Ích Tối Đa, cho rằng các hành động càng đúng khi chúng càng có xu hướng thúc đẩy hạnh phúc, và càng sai khi chúng càng có xu hướng tạo ra điều trái ngược với hạnh phúc. Với hạnh phúc được hiểu là sự hài lòng và vắng mặt đau khổ; và bất hạnh được hiểu là sự đau khổ và không có sự hài lòng. Sự hài lòng, và sự vắng mặt khỏi đau khổ, là những thứ duy nhất đáng mong muốn như là các mục đích; và tất cả những thứ đáng mong muốn là đáng mong muốn hoặc vì sự hài lòng cố hữu trong chúng, hoặc như là phương tiện để thúc đẩy sự hài lòng và ngăn chặn sự đau khổ.
Một lý thuyết như vậy gây ra một ác cảm đối với nhiều người. Họ chỉ rõ, một học thuyết cho rằng cuộc sống không có mục đích nào cao hơn ngoài sự hài lòng, là một học thuyết chỉ đáng cho con lợn và những kẻ đáng tởm mà các môn đệ của Epicurus thường được so sánh với.
Các môn đệ của Epicurus trả lời rằng chính những kẻ buộc tội mới nghĩ về bản chất của con người thấp kém như vậy, vì họ nghĩ rằng con người không có khả năng của những sự hài lòng nào ngoài sự hài lòng mà con lợn, hay những kẻ đáng tởm có thể. Con người có các khả năng cao hơn và không xem bất cứ thứ gì là hạnh phúc mà không bao gồm sự hài lòng của họ.
Một số dạng hài lòng là đáng mong muốn và có giá trị hơn các dạng hài lòng khác. Nếu ai đó hỏi tôi là tôi muốn nói gì khi nói đến chất của sự hài lòng, hay điều gì làm cho một sự hài lòng có giá trị hơn một sự hài lòng khác, thì chỉ có một câu trả lời sau. Về hai sự hài lòng, nếu có một sự hài lòng mà hầu hết tất cả mọi người từng trải nghiệm với cả hai thích thú hơn, không quan tâm đến bất cứ cảm nhận nào về nghĩa vụ đạo đức, thì đó là sự hài lòng đáng mong muốn hơn. Nếu có một sự hài lòng mà, đối với tất cả những ai quen thuộc với cả hai, đánh giá cao hơn sự hài lòng khác, thì chúng ta có lý do chính đáng để gán cho nó một sự cao hơn về chất.
Những người có khả năng như nhau khi đánh giá và hưởng thụ cả hai, chắc chắn dành cho các khả năng cao hơn của họ một sự ưu tiên hơn. Chỉ một số rất ít người sẽ chấp nhận thay đổi để trở thành một loài động vật thấp hơn vì sự hứa hẹn đối với sự hài lòng của nó. Một tồn tại với các khả năng cao hơn đòi hỏi nhiều hơn để làm anh ta hạnh phúc và có khả năng chịu đựng những đau khổ sâu sắc hơn; và anh ta không bao giờ mong muốn chìm đắm vào trong những điều mà anh ta cảm thấy đó là một sự tồn tại thấp kém hơn.
Trở thành một con người không thỏa mãn tốt hơn là trở thành một con lợn thỏa mãn; trở thành Socrates không thỏa mãn còn hơn là trở thành một kẻ ngớ ngẩn thỏa mãn. Và nếu kẻ ngớ ngẩn hay con lợn có một quan điểm khác, đó là vì chúng chỉ biết về một mặt của chúng. Còn con người không thỏa mãn, và Socrates biết cả hai mặt.
Nhiều người có khả năng đối với những sự hài lòng cao hơn, nhưng do ảnh hưởng của các cám dỗ nên đắm mình với những sự hài lòng thấp hơn. Nhưng điều này phù hợp với sự ưu việt nội tại của sự hài lòng cao hơn. Do sự yếu đuối của tính cách, con người thường đưa ra những sự lựa chọn cho những cái tốt trước mắt và gần gũi. Họ theo đuổi những đam mê xác thịt gây tổn hại đến sức khỏe, song vẫn ý thức là sức khỏe là cái tốt lớn hơn.
Từ sự phán quyết của các quan toàn vô tư, thì không thể có sự chống án. Sẽ không còn một tòa án khác, ngay cả đối với câu hỏi về lượng. Vì còn phương tiện nào để quyết định đâu là sự đau khổ nhất trong hai sự đau khổ ngoài các cảm nhận và phán đoán của những người có kinh nghiệm.
Sự tốt lành của mọi người
Tiêu chuẩn công lợi không phải là hạnh phúc lớn nhất của tác nhân, nhưng là hạnh phúc lớn nhất cho chất cả mọi người.
Mục đích tối cao là một sự tồn tại mà tránh xa nhất khỏi mọi sự đau khổ, và luôn tràn đầy sự hài lòng, cả về lượng lẫn về chất. Tiêu chuẩn đạo đức được định nghĩa như là các quy tắc đối với hành vi của con người, nên chỉ với một stuân thủ các tiêu chuẩn như vậy thì sự tồn tại như trên mới có thể đạt được cho tất cả mọi người tới mức độ lớn nhất có thể; và không chỉ cho chính họ, mà cho toàn thể các tạo vật có tri giác.
Đạo đức học công lợi nhận ra trong mỗi con người tồn tại sức mạnh hi sinh những điều tốt đẹp nhất của chính họ vì sự tốt đẹp của người khác. Nó chỉ từ chối thừa nhận rằng sự hi sinh là một điếu tốt tự thân. Một sự hi sinh mà không làm gia tăng tổng số hạnh phúc, được coi là một sự hi sinh lãng phí.
Hạnh phúc, thứ hình thành nên tiêu chuẩn của thuyết công lợi không phải là hạnh phúc của riêng tác nhân, mà là hạnh phúc của tất cả mọi người có liên quan. Khi đứng giữa hạnh phúc riêng của anh ta và hạnh phúc của người khác, thuyết công lợi đòi hỏi anh ta không được thiên vị mà phải giống như là một khán giả vô tư và rộng lượng. Trong quy tắc vàng của Jesus, chúng ta đọc thấy một tinh thần hoàn toàn là tinh thần của đạo đức học công lợi. Hay đối xử với người khác như bạn muốn được người khác đối xử với, hãy yêu hàng xóm của bạn như chính bạn, cấu thành một cách hoàn hảo lý tưởng của đạo đức học công lợi.
Đôi khi những người phản đối thuyết công lợi cho rằng nó đòi hỏi quá nhiều đến nỗi người ta phải luôn luôn hành động từ sự khích lệ thúc đẩy lợi ích của xã hội. Nhưng đây là sự lẫn lộn quy tắc với động cơ. Động cơ không liên quan gì đến tính đạo đức của hành động, mà liên quan nhiều đến giá trị mà tác nhân tin. Một người cứu sống một người khác khỏi chết đuối đã làm một điều đúng đắn về đạo đức, bất kể động cơ của anh ta là bổn phận, hay là hi vọng được trả tiền.
Đôi khi công lợi được gọi là một học thuyết vô thần. Tuy nhiên, vấn đề này phụ thuộc vào ý tưởng mà chúng ta có về tính cách đạo đức của Thượng đế. Nếu Thượng đế muốn, trên tất cả, đó là hạnh phúc của các tạo vật của ngài, và điều này là mục đích của ngài khi tác tạo, thì công lợi không chỉ không phải là một học thuyết vô thần, mà còn là một tôn giáo sâu sắc hơn bất kì tôn giáo khác. Một người theo thuyết công lợi, người tin vào sự tốt lành và khôn ngoan toàn hảo của Thượng đế, nhất thiết tin rằng bất cứ điều gì mà Thượng đế tiết lộ liên quan đến đạo đức thì phải đáp ứng các yêu cầu công lợi với một mức độ tối cao.
Công lợi thường được hiểu như là Scó lợi, tương phản với chính Nguyên tắc công lợi. Nhưng S lợi thường có nghĩa là những gì có lợi cho chính tác nhân hoặc cho một số mục đích tạm thời, nhưng vi phạm những thứ tốt đẹp lớn hơn. Theo nghĩa này, Scó lợi là có hại. Nói dối sẽ thường có lợi. Nhưng sự mở mang cảm nhận về sự thật là rất hữu ích. Sự vi phạm một quy tắc như vậy vì lợi ích hiện tại là không có lợi. Tuy nhiên ngay cả quy tắc thiêng liêng này cũng có ngoại lệ, như khi từ chối cung cấp thông tin cho những kẻ bất lương sẽ ngăn chặn điều ác, và điều này chỉ có thể thực hiện bằng cách nói dối. Nguyên tắc công lợi sẽ so sánh các công lợi xung đột với nhau. 
Bằng chứng của nguyên tắc công lợi
Theo thuyết công lợi, hạnh phúc là thứ đáng mong muốn, và là thứ duy nhất đáng mong muốn như một mục đích; tất cả những thứ khác chỉ đáng mong muốn như là phương tiện tới mục đích đó.
Bằng chứng duy nhất chứng minh một vật có thể nhìn thấy là người ta thấy nó. Bằng chứng duy nhất chứng minh một âm thanh có thể nghe thấy là người ta nghe thấy nó. Tương tự như vậy, bằng chứng duy nhất chứng minh một thứ gì đó đáng mong muốn là người ta mong muốn nó. Nếu mục đích mà thuyết công lợi đề nghị, cả về lý thuyết lẫn thực tiễn, không được thừa nhận như là một mục đích, thì không có gì để có thể thuyết phục mọi người tại sao nó lại như vậy. Không ai có thể chứng minh tại sao hạnh phúc chung lại đáng mong muốn, ngoại trừ là mỗi người, trong trừng mực mà anh ta tin nó có thể đạt, mong muốn hạnh phúc của riêng anh ta. Đây là một sự kiện mà chúng ta không chỉ có bằng chứng xác nhận, mà còn có bằng chứng để khẳng định rằng, hạnh phúc là điều tốt đẹp, hạnh phúc của mỗi người là điều tốt đẹp với người đó, và vì vậy, hạnh phúc chung là điều tốt đẹp đối với tất cả mọi người. Hạnh phúc đã tạo ra địa vị của nó như là một trong các mục đích của hành vi và là tiêu chuẩn của đạo đức.
Nhưng nó đã không tự chứng tỏ mình là tiêu chuẩn duy nhất. Để làm được điều đó, nó cần cho thấy, không chỉ mọi người muốn hạnh phúc, mà còn là họ không bao giờ muốn bất cứ thứ gì khác. Nhưng, dường như họ muốn những thứ khác với hạnh phúc, chẳng hạn, như đức hạnh, hay sự biến mất của mọi sự xấu xa. Từ đây, những người phản đối tiêu chuẩn công lợi suy ra rằng hành động của con người có những mục đích khác ngoài hạnh phúc, và hạnh phúc không phải là tiêu chuẩn duy nhất.
Thuyết công lợi khẳng định rằng, đức hạnh là thứ đáng được mong muốn, một cách vô vị lợi, vì chính nó. Tinh thần sẽ không ở trong trạng thái có ích nhất đối với hạnh phúc chung, trừ khi tinh thần yêu mến đức hạnh như là một thứ đáng mong muốn trong chính nó. Thành phần của hạnh phúc là đa dạng, và mỗi thành phần là một thứ đáng mong muốn trong chính nó. Theo nguyên tắc công lợi, đức hạnh vốn dĩ không phải là một phần của mục đích, nhưng nó có thể trở thành như vậy.
Tiền vốn dĩ không có gì đáng mong muốn hơn hơn sỏi đá. Giá trị của nó chỉ là giá trị của những thứ mà nó có thể mua. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, tiền là đáng mong muốn trong chính nó; và ước muốn sở nó thường mạnh hơn ước muốn sử dụng nó. Từ là một phương tiện cho hạnh phúc, nó trở thành thành phần chính trong quan niệm của con người về hạnh phúc. Mọi người nghĩ mình sẽ hạnh phúc hơn khi sở hữu nó. Nó được bao gồm trong hạnh phúc của họ.
Từ sự trình bày trên, đức hạnh là một th tốt đẹp. Và sự khác nhau giữa nó và tình yêu tiền bạc là không có gì làm một người có thể mang lại quá nhiều điều tốt lành cho người khác ngoài sự mở mang tình yêu vô tư cho đức hạnh. Tiêu chuẩn công lợi, trong khi nó chấp nhận các ước muốn sở hữu khác, song thường được đẩy tới mức mà chúng có hại cho hạnh phúc chung hơn thúc đẩy hạnh phúc chung, đòi hỏi sự mở mang tình yêu đức hạnh tới mức lớn nhất nhất có thể, vì đức hạnh có tầm quan trọng bên trên mọi thức khác đối với mục tiêu thúc đẩy hạnh phúc chung.
Vì vậy không có gì đáng mong muốn ngoại trừ hạnh phúc. Bất cứ cái gì đáng mong muốn khác hơn như là một phương tiện để đạt được một số mục đích bên ngoài nó, là đáng mong muốn như một phần của hạnh phúc. Những người muốn đức hạnh vì chính ý nghĩa của đức hạnh, muốn nó hoặc bởi vì họ ý thức về nó như một sự hài lòng, hoặc bởi vì họ ý thức về sự tồn tại mà không có nó là một sự đau khổ, hoặc vì cả hai lý do trên.
Bây giờ chúng ta có câu trả lời cho sự hòa nghi về bằng chứng của nguyên tắc công lợi. Nếu bản chất con người được cấu thành như vậy để không muốn thứ gì khác hơn ngoài những thứ là một phần của sự hài lòng, hoặc là phương tiện để đạt được sự hài lòng, thì chúng ta không thể có bằng chứng khác, và không đòi hỏi bằng chứng khác để chức minh đó là những thứ đáng mong muốn duy nhất. Nếu vậy, hạnh phúc là mục đích duy nhất của hành động, và sự thúc đẩy hạnh phúc là phương thức để phán đoán hành vi của con người. 
Điều này có là như vậy hay không chỉ có thể được quyết định bởi sự quan sát. Bằng chứng này sẽ cho thấy rằng việc ước muốn một thứ và tìm thấy ở nó sự hài lòng, và ghét bỏ một thứ và nghĩ về nó như là đau khổ, là hai mặt của cùng một sự kiện tâm lý học; suy nghĩ một đối tượng như là đáng mong muốn, và suy nghĩ về nó như là sự hài lòng, thực chất một.
Nhưng nếu học thuyết này đúng, thì nguyên tắc công lợi được chúng minh. Dù nó có là như vậy hay không, thì bây giờ phải để lại cho sự phán xét của những độc giả sáng suất.
Câu hỏi nghiên cứu
1. Nêu nguyên tắc hạnh phúc lớn nhất. Cho một ví dụ áp dụng?
2. Mill phản ứng như thế nào đối với những người nói rằng quan điểm của ông chỉ đáng giá cho con lợn?
3. Theo quan điểm của Mill, có phải sự hài lòng tinh thần cao quý hơn bởi vì chúng chứa đựng nhiều sự hài lòng hơn? Làm thế nào để quyết định sự hài lòng nào là cao quý hơn?
4. Một số người khi trải nghiệm cả sự hài lòng cao và sự hài lòng thấp, liệu họ có thể thích sự hài lòng thấp hơn không?
5.  Khi áp dụng nguyên tắc hạnh phúc lớn nhất, chúng ta đang xét đến hạnh phúc của ai?
6. T điều kiện nào thì chúng ta nên thực hiện các hành động tự hi sinh?
7. Quy tắc vàng và nguyên tắc “yêu hàng xóm của bạn” có xung đột với thuyết công lợi?
8. Liệu tất cả các hành động phải được thực hiện vì mục tiêu thúc đẩy lợi ích chung của toàn xã hội?
9. Có phải đức hạnh là đáng mong muốn vì là phương tiện để đạt được sự hài lòng? 
Nguồn:“Ethics Contemporary Readings”, Routledge Contemporary Readings in Philosophy
Read More...
 
Xem trang web chính thức tại Tinhthankhaiminh.org